THỜI TIẾT HÔM NAY

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Vietnamese Dictionary

    Về Trang chủ

    Gốc > Minh Tâm >

    TỒN TÂM

    http://sachminhthanh.files.wordpress.com/2010/09/tam-so-mang-quyen.jpg

    VII - Tuyển dịch thiên thứ bảy:  TỒN TÂM
     

    1A.

    Nguyên văn:

    景行录云:坐密室如通衢,驭寸心如六马。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Ngồi nhà kín như ngồi đường thông thoáng, điều khiển tấc lòng như đánh xe sáu ngựa.
     

    C.

    Diễn ca:

    Muốn giữ Tâm mãi còn trong sáng,
    Ngồi phòng riêng, tưởng đứng Ngã năm.
    Khách xuôi ngược, mắt đăm đăm,
    Ðừng nghĩ âm thầm che mắt thế gian.
    Kìm giữ Tâm lại càng thêm khó,
    Như ngựa đàn tung vó kéo xe,
    Ghìm cương buộc ngựa phải nghe,
    Ghìm Tâm đừng sổng có bề khó hơn!
     

    2A.

    Nguyên văn:

    击壤诗云:
    富贵如将智力求,
    仲尼年少合封侯。
    世人不解青天意,
    空使身心半夜愁。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thơ Kích Nhưỡng (*) nói:  Nếu đem sức của trí tuệ mà tìm được giàu sang thì Trọng Ni (Khổng Tử) phù hợp việc phong hầu từ thời tuổi trẻ.  Người đời không hiểu ý trời xanh nên để tâm mình buồn suông lúc nửa đêm.
     

    C.

    Diễn ca:

    Thông minh xoay nổi sang giàu,
    Trọng Ni ắt đã phong hầu thời trai.
    Hiểu ý trời, dễ mấy ai!
    Thế nên lắm kẻ đêm dài xót xa.
     

    D.

    Chú thích:

    Thơ Kích Nhưỡng:  Nhưỡng là nhạc cụ gõ thời cổ, làm bằng gốm.  Người xưa gõ vào nhưỡng để đọc thơ, vè trong các cuộc vui dân gian.  Lối diễn xuất ấy gọi là Kích Nhưỡng.  Những bài hát ấy tập hợp thành Kích Nhưỡng thi.
     

    3A.

    Nguyên văn:

    范忠宣公诫子弟曰:人虽至愚责人则明。虽有聪明恕己则昏。尔曹但当以责人之心责己,恕己之心恕人,不患不到圣贤地位也。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Phạm Trung Tuyên công dạy con em rằng:  Người tuy rất ngu nhưng biết trách người thì sáng.  Tuy có thông minh nhưng tha mình thì mê tối.  Bọn ngươi chỉ nên đem cái lòng trách người để trách mình, cái lòng tha mình để tha người, không lo không đạt đến địa vị thánh hiền.
     

    C.

    Diễn ca:

    Dù ai ngu dốt đến đâu,
    Trách người sai quấy, mình mau khôn dần.
    Kẻ thông minh cũng hóa đần,
    Nếu luôn tha thứ những lần mình sai.
    Chỉ nên tha thứ lỗi ai,
    Lỗi mình mình nhận, đáng vai thánh hiền.

    4A.

    Nguyên văn:

    子曰:聪明睿智,守之以愚;功被天下,守之以让。勇力振世,守之以怯;富有四海,守之以谦。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Khổng Tử nói:  Phải lấy vẻ ngu đần để giữ an toàn cho sự thông minh sắc sảo.  Phải lấy sự nhún nhường để giữ an toàn cho cái công lao trùm thiên hạ.  Phải giả bộ khiếp sợ để giữ an toàn cho sự dũng cảm rung đời.  Hãy giữ vẻ khiêm tốn để giữ sự giàu có bốn biển.
     

    C.

    Diễn ca:

    Kẻ thông minh thật tuyệt vời,
    Giả ngu thì mới sống đời bình yên.
    Kẻ có công, muốn đỡ phiền,
    Chớ nên khoe mẽ công mình lớn lao.
    Sức thật khỏe, tài thật cao,
    Làm bộ khiếp hãi, xiết bao an toàn!
    Dẫu giàu ăn đứt thế gian,
    Chịu lép giữ mạng, làm tàng dễ nguy.

    5A.

    Nguyên văn:

    子贡曰:贫而无谄,富而无骄。

    子曰:“贫而无怨难,富而无骄易。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tử Cống (*) nói:  Nghèo mà không siểm nịnh, giàu mà không kiêu.
     
    Khổng Tử nói:  Nghèo mà không oán thì khó.  Giàu mà không kiêu thì dễ.
     

    C.

    Diễn ca:

    Sống trên đời kẻ nghèo không nịnh,
    Giàu không kiêu, mới chính kẻ hay.
    Nghèo mà không oán mới hay,
    Giàu không kiêu, tập được ngay, khó gì!
     

    D.

    Chú thích:

    Tử Cống:  tên thật là Ðoan Mộc Tứ (520 trước Công Nguyên - ?) học trò xuất sắc của Khổng Tử, có tài kinh doanh.
     

    6A.

    Nguyên văn:

    古人形似兽,心有大圣德。今人表似人,兽心安可测。有心无相,相自心生,有相无心,相从心灭。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Người xưa hình dáng tựa thú nhưng tâm có đức độ của bậc đại thánh.  Người nay bề ngoài tựa người nhưng tâm địa của loài thú đâu lường xiết?  Có tâm không có tướng, tướng sẽ được tâm sinh cho.  Có tướng mà không có tâm, tướng sẽ mất theo tâm.
     

    C.

    Diễn ca:

    Người xưa trông tựa thú hoang,
    Cái tâm thánh thiện sáng trong giữa đời.
    Người nay đúng thật dáng người,
    Lòng lang dạ sói có thừa đấy thôi!
    Tâm tốt, hình dáng khó coi,
    Rõ tâm, ai xét bề ngoài làm chi?
    Mẽ ngoài dầu có uy nghi,
    Nhưng tâm đen tối, còn gì mà mong?
     

    7A.

    Nguyên văn:

    人皆道我拙,我亦自道拙。有耳常如聋,有口不会说,你自逞豪强,横竖有一跌。吃跌教君思,反不如我拙,百巧百成不如一拙。未来休指望,过去莫思量。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Người đều nói ta vụng, ta cũng nói ta vụng.  Có tai thường như điếc, có miệng không biết nói.  Mày tự cho giỏi mạnh, bề nào cũng có một lần vấp ngã.  Vấp ngã để ngươi nghĩ ra rằng không bằng ta vụng.  Trăm khéo trăm nên không bằng một vụng.  Cái chưa đến, đừng trông chờ, cái đã qua không lo tính.
     

    C.

    Diễn ca:

    Người chê ta vụng - Xin vâng!
    Nghe thì vô ích, nói năng được gì?
    Người tự hào chẳng ai bì,
    Bề gì lại chẳng có khi lỡ lầm?
    Người vấp ngã mới định tâm,
    Nhận ra ta vụng có phần tốt thay.
    Một vụng ăn đứt trăm hay,
    Cả quá khứ, cả tương lai, mặc đời.

    Chú ý:  Ðoạn này chỉ minh họa chủ thuyết Vô Vi của Ðạo Giáo, mâu thuẫn với chủ thuyết trung hiếu của sách.
     

    8A..

    Nguyên văn:

    常将有日思无日,
    莫待无时思有时。
    有钱常记无钱日,
    安乐常思病患时。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thường đem ngày có nhớ ngày không có, đừng đợi lúc không có nhớ lúc có.  Có tiền thường nhớ ngày không tiền, yên vui nên phòng lúc hoạn bệnh.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ngày có nghĩ đến ngày không,
    Ðừng đợi lúc hết, nhớ nhung lúc còn.
    Túi đầy nhớ túi rỗng không,
    Yên vui cần phải đề phòng ốm đau.
     

    9A.

    Nguyên văn:

    素书云:薄施厚望者不报,贵而忘贱者不久。求人须求大丈夫,济人须济急时无。施恩勿求报,与人勿追悔。寸心不昧,万法皆明。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Tố Thư nói:  Kẻ làm ơn ít ỏi mà mong đền ơn hậu hĩ là không đáng đền đáp.  Kẻ sang mà quên lúc hèn là bất nghĩa.  Cầu cứu người khác thì nên tìm bậc đại trượng phu, giúp người nên giúp khi người túng ngặt nhất thời.  Làm ơn không cầu báo đáp, cho người thì đừng tiếc nuối.  Lòng không ám muội thì mọi cách trên đều trong sáng.
     

    C.

    Diễn ca:

    Cho khế chớ mong trả vàng,
    Bất nghĩa là kẻ khi sang quên hèn.
    Cậy nhờ, tránh kẻ nhỏ nhen,
    Cứu giúp, chọn kẻ khó khăn nhất thời.
    Ðã cho, đừng tiếc ai ơi,
    Ðã làm ơn, chớ mong người trả ơn.
    Cái Tâm đừng tính thiệt hơn,
    Mọi điều trong sáng như gương cả mà!
     

    10A.

    Nguyên văn:

    孙思邈曰:胆欲大而心欲小,智欲圆而行欲方。念念有如临敌日,心心常似过桥时。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tôn Tư Mạo (*) nói:  Mật phải muốn lớn mà Tâm phải muốn nhỏ, Trí phải muốn tròn mà Hạnh phải muốn vuông.  Ý  luôn luôn nghĩ như ngày gặp địch, Tâm  thường thấp thỏm như lúc qua cầu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Mật phải lớn mà Tâm phải nhỏ,
    Trí phải tròn mà Hạnh phải vuông.
    Lo như thấy giặc vào vườn,
    Sợ như cầu khỉ ngày thường phải qua.
     

    D.

    Chú thích:

    Tôn Tư Mạo:  danh y thông thái đời Ðường đồng thời là Ðạo gia tên tuổi, được suy tôn là Tôn chân nhân.

    Hàm ý ở đây là:  Con người cần phải "lớn" mật để dám nghĩ, dám làm đại sự cho đời, cho mình, mới nuôi được chí lớn.  Cái Tâm phải "nhỏ" mới phát huy được lòng tử tế thực thụ (nghĩa gốc của Tử là bé bỏng, nhỏ nhắn, Tế là tinh tường, nhỏ nhoi).

    Trí phải "tròn" thì mới lăn được khắp nơi, mới chu toàn, chu đáo mọi việc (nghĩa gốc: chu là vòng quanh, toàn là đầy đủ, đáo là đến).

    Hạnh phải "vuông" thì mới ổn định, không lập lờ, xử sự mới dứt khoát bằng tinh thần "bánh chưng ra góc".
     

    11A.

    Nguyên văn:

    景行录云:诚无悔,恕无怨,和无仇,忍无辱。惧法朝朝乐,欺公日日忧。小心天下去得,气剛寸步难移。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Thành thực thì không gặp lúc đen tối, dung thứ thì không gây căm oán, hòa hảo thì không tạo thù hận, nén nhịn thì sẽ không gặp nhục nhã.  Sợ phép nước sáng nào cũng vui.  Khinh nhờn cửa công thì ngày nào cũng lo âu.  Lòng thận trọng thì đi khắp thiên hạ cũng được, khí khái cứng cỏi thì đi một bước nhỏ cũng khó khăn.
     

    C.

    Diễn ca:

    Chân thành đỡ gặp âm mưu,
    Rộng lượng tha thứ, oán cừu ít sinh.
    Ai thù chi kẻ hiền lành?
    Người khéo nín nhịn đỡ thành nhuốc nhơ.
    Sợ phép nước, sống phởn phơ,
    Nhờn cửa quan, chẳng bao giờ được yên.
    Thận trọng dễ dạo khắp miền,
    Cứng đầu, một bước gặp phiền phức ngay.
     

    12A.

    Nguyên văn:

    朱子曰:守口如瓶,防意如城。是非只为多开口,烦恼皆因强出头。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Chu Tử (*) nói:  Giữ miệng như miệng bình, phòng ý như có thành che.  Phải quấy chỉ vì mở miệng nhiều.  Phiền não đều tại gượng ra mặt.
     

    C.

    Diễn ca:

    Biết điều, bưng kín miệng bình,
    Giữ ý như đặt trong thành chở che.
    Cãi nhau vì nói khó nghe,
    Bực vì ương bướng chẳng hề nhịn nhau.
     

    D.

    Chú thích:

    Chu Tử:  Tên thực là Chu Hi (1130 - 1200) đỗ tiến sĩ, làm quan trải 4 đời vua Tống.  Ông là nhân vật tiêu biểu cho nho học đời Tống, qui tụ nhiều danh nho uyên bác.  Vua Khang Hi (Thanh Thánh Tổ (1662 - 1722) đã thờ chung ông vào nhóm Thập triết 10 đại đệ tử của Khổng Tử)  Ông cũng được gọi là Chu Văn Công, tự Nguyên Hối, Trọng Hối, Hối Ông.
     

    13A.

    Nguyên văn:

    素书云:有过不知者自蔽之也,以言取怨者之祸也。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Tố Thư nói:  Kẻ có lỗi mà không biết là tự che vậy.  Kẻ dùng lời nói chuốc oán là tự gây họa vậy.
     

    C.

    Diễn ca:

    Lỗi mình đã rõ sờ sờ,
    Nếu không nhận biết là nhờ ém đi.
    Nói lời gây oán làm chi!
    Tự mình chuốc họa, khôn gì mà khôn?
     

    14A.

    Nguyên văn:

    景行录云:贪是逐物于外,欲是情动于中。君子爱财,取之有道。君子忧道不忧贫,君子谋道不谋食。君子坦荡荡,小人长戚戚。量大福亦大。机深祸亦深。莫为福首,莫作祸先。各人自扫门前雪,莫管他人屋上霜。心不负人,面无惭色。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Tham là đuổi bắt vật ở ngoài.  Muốn là tình động ở trong.  Quân tử yêu của nhưng lấy nó có đạo lý.  Quân tử lo đạo chứ không lo nghèo.  Quân tử mưu tính đạo lý chứ không mưu tính cái ăn.  Quân tử bình thản thênh thang, tiểu nhân buồn lây lất.  Lượng lớn phước cũng lớn, mưu sâu họa cũng sâu.  Ðừng làm kẻ hưởng phước đầu tiên, đừng làm kẻ gây họa trước hết.  Mỗi người tự quét tuyết trước cửa, đừng bận tâm sương phủ mái nhà người khác.  Lòng không phụ người thì mặt không có sắc thẹn.
     

    C.

    Diễn ca:

    Tham là vơ vét của đời,
    Muốn là rạo rực chính nơi lòng mình.
    Của tiền, quân tử chẳng khinh,
    Chỉ là tham muốn hợp tình mà thôi.
    Quân tử vui với đạo trời,
    Nghèo nàn cam chịu, chẳng lời thở than.
    Lo đạo, chẳng lo cái ăn,
    Lòng luôn bình thản, khó khăn mặc đời.
    Tiểu nhân buồn bực không ngơi,
    Ðộ lượng càng lớn, phước đời càng to.
    Tâm cơ sâu, họa đáng lo,
    Dù họa dù phước chớ so hơn người.
    Việc mình lo tốt mười mươi,
    Ðừng mãi chê cười thiên hạ xấu xa.
    Lòng mình chẳng phụ người ta,
    Khỏi lo ngượng với kẻ xa người gần...
     

    15A.

    Nguyên văn:

    景行录云:休恨眼前田地窄,退后一步自然宽。世无百岁人,枉作千年计。儿孙自有儿孙福,莫把儿孙作马牛。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Ðừng hận ruộng trước mắt hẹp, bước lùi một bước tự nhiên thấy rộng ra.  Ðời không có người trăm tuổi (Thế mà có kẻ) uổng công làm kế hoạch nghìn năm.  Con cháu tự có phước của con cháu .  (Cha ông) đừng đem con cháu làm trâu ngựa.
     

    C.

    Diễn ca:

    Nhìn trước mắt, ruộng đồng quá hẹp,
    Lùi bước chân, rộng đẹp ngay ra.
    Mấy ai trăm tuổi đâu mà!
    Hòng chi nghìn tuổi, thật là viển vông!
    Cháu con có phước cháu con,
    Bắt làm trâu ngựa, đời còn gì vui?
     

    16A.

    Nguyên văn:

    世上无难事,都来心不专。宁结千人意,莫结一人冤。忍难忍之事,恕不明之人。规小节者不能成荣名。恶小耻者不能成大功。无求胜布施,谨守胜持斋。言轻莫劝闹,无钱莫请人。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Trên đời không việc khó, chỉ khó do không chuyên tâm.  Thà kết ý nghìn người chứ không kết oán với một người.  Nhịn thứ việc khó nhịn, tha cho người không sáng suốt.  Kẻ khép mình vào những qui định nhỏ nhặt không làm được chuyện vang danh.   Kẻ ghét sự xấu hổ vặt vãnh không làm nên công lớn.  Không cầu xin hay hơn bố thí.  Giữ cẩn thận hay hơn ăn chay.  Nói năng hời hợt thì đừng huênh hoang tranh biện, không tiền bạc chớ nên mời khách.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ở đời việc khó có là bao!
    Chỉ tại người không để ý vào.
    Chiều ý nghìn người là việc đúng,
    Chớ nên trái ý một ai nào.
    Nhịn giỏi, nhìn điều gay khó nhất,
    Tha hay, tha kẻ hiểu lơ mơ.
    Trách vặt, khó nên vinh dự lớn,
    E dè thẹn nhỏ, chẳng công to.
    Không thèm cầu cạnh hơn ban phát,
    Khéo giữ, chay đàn đỡ phải lo.
    Lời mọn đừng nên ầm ỹ lắm,
    Không tiền, mời khách chẳng hay ho.
     

    17A.

    Nguyên văn:

    寇莱公六悔铭:官行私曲失时悔。富不俭用贫时悔。势不少惜,过时悔。见事不学,用时悔。酒后狂言,醒时悔。安不得息,病时悔。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Bài minh "Sáu điều hối hận" của Khấu Lai Công (*) viết:

    - Ở chức quan làm điều quanh co tư túi, lúc mất quan thì hối hận.

    - Giàu có không tiêu dùng tiện tặn, lúc nghèo thì hối hận.

    - Có thế lực không tiếc một chút, lúc phạm lỗi thì hối hận.

    - Thấy việc không học, đến lúc cần dùng thì hối hận.

    - Sau khi uống rượu buông lời cuồng ngông, lúc tỉnh lại hối hận.

    - Lúc yên ổn không nghỉ ngơi, khi đau ốm lại hối hận.
     

    C.

    Diễn ca:

    Làm quan vun vén riêng tư,
    Mất quan mới hối, ngồi thừ thở ra.
    Lúc giàu, thỏa sức tiêu pha,
    Ðến khi nghèo túng, xót xa làm gì!
    Ðắc thế chẳng chút nể vì,
    Phạm lỗi mới hối, "thế" đi mất rồi!
    Việc đáng học, cứ buông xuôi,
    Ðến khi gặp việc, làm hư lại buồn.
    Khi say, lảm nhảm ngông cuồng,
    Tỉnh ra lại hối hận suông, lộn giờ!
    Lúc yên chẳng chịu nghĩ ngơi,
    Bê tha bệnh hoạn, hối thời vô phương.
     

    D.

    Chú thích:

    Khấu Lai Công:  tức Khấu Chuẩn (961 - 1023).  Tể tướng đời Tống, theo vua Chân Tông đi đánh Khiết Ðan (nước Liêu) được phong tước Lai Quốc Công nên gọi tắt là Khấu Lai Công.
     

    18A.

    Nguyên văn:

    孙景初安乐法:粗茶淡饭,饱即休。补破遮寒暖即休。三平二满,过即休。不贪不妬,老即休。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Phép yên vui của Tôn Cảnh Sơ là:  Trà thô cơm nhạt, no thì thôi.  Vá chỗ rách, che chỗ rét, ấm thì thôi.  Nếu ba phần mới vừa nhưng chỉ thỏa mãn được hai, qua rồi thì thôi.  Không tham lam, không ghen ghét, già rồi thì thôi.
     

    C.

    Diễn ca:

    Chẳng đòi đặc sản, danh trà,
    Cứ no cái bụng là ta vừa lòng.
    Áo rách vá lại là xong,
    Gió lùa che kỹ, chẳng mong lắm tầng.
    Việc đời đòi hỏi ba phần,
    Hai phần thỏa mãn, chẳng cần hỏi thêm.
    Tham lam, ganh tị đừng thèm,
    Chỉ mong nhẹ nhõm ngày đêm đến già.
     

    19A.

    Nguyên văn:

    益智书云:宁无事而家贫,莫有事而家富。宁无事而住茅屋,莫有事而住金玉。宁无病而食粗饭,莫有病而食良药。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Ích Trí nói:  Thà vô sự mà nhà nghèo, không hữu sự mà nhà giàu.  Thà vô sự mà ở lều tranh, không hữu sự mà ở nơi vàng ngọc.  Thà không bệnh mà ăn cơm hẩm hơn có bệnh mà dùng thuốc hay.
     

    C.

    Diễn ca:

    Thà là vô sự sống nghèo,
    Không thèm hữu sự sống theo cảnh giàu.
    Tranh tre trống trước hở sau,
    Không thèm hữu sự chuốt trau ngọc vàng.
    Cơm hẩm xơi lúc bình an,
    Còn hơn bệnh tật thuốc thang đắt tiền.
     

    20A.

    Nguyên văn:

    心安茅屋稳,性定菜根香。世事静方见,人情淡始长

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tâm yên thì ở nhà tranh cũng ổn.  Tính ổn định thì ăn rễ rau cũng thấy thơm.  Việc đời phải yên tĩnh mới thấy rõ.  Tình người nhạt nhẽo mới lâu dài.
     

    C.

    Diễn ca:

    Tâm mà yên, lều tranh cũng ổn,
    Tính vững vàng, rễ cải cũng thơm.
    Lúc thanh tĩnh, rõ đời hơn,
    Tình người thoang thoảng mới thơm lâu dài.
     

    21A.

    Nguyên văn:

    风波境界立身难,
    处世规模要放宽。
    万事尽从忙里错,
    此心须向静中安。
    路当平处更行稳,
    人有常情耐久看,
    直到始终无悔吝,
    才生枝节便多端。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Trong cảnh sóng gió lập thân khó.  Cung cách ở đời cần phải buông thoáng.  Muôn việc nhầm lẫn đều do vội vàng.  Cái Tâm cần hướng đến sự nhàn nhã trong yên tĩnh.  Ðường gặp chỗ bằng phẳng người đi mới ổn.  Người có giữ tính bình thường thì mới chịu đựng được nhìn nhau lâu.  Thẳng thắn từ trước đến sau mới không hối tiếc, mới sinh cành nhánh lắm mối.
     

    C.

    Diễn ca:

    Trong sóng gió lập thân mới khó,
    Nên ở đời chớ có bôn chôn.
    Vội vàng thường hỏng việc luôn,
    Nên chi cần giữ cho lòng lặng an.
    Ði an toàn nhờ đường bằng phẳng,
    Hiểu tình nhau mới đặng bền lâu.
    Muốn đừng hối hận trước sau,
    Chớ sinh lắm chuyện không đâu gây phiền.
     

    22A.

    Nguyên văn:

    景行录云:责人者不全交,自恕者不改过。有势不要使人承,落得孩儿叫小名。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Kẻ trách người là không biết kết giao hết lòng.  Kẻ tự tha mình thì không sửa lỗi.  Có thế lực không được buộc người ta kẻo khi rơi khỏi đấy bị trẻ con réo tên thời bé.
     

    C.

    Diễn ca:

    Trách nhau bất cứ dịp nào,
    Những người như thế, kết giao khó toàn.
    Lỗi mình đã quá rõ ràng,
    Xuê xoa thì muốn đàng hoàng còn lâu!
    Ðang khi thế lớn quyền cao,
    Ðừng bắt thiên hạ bảo sao phải chiều.
    Kẻo khi quyền thế tiêu điều,
    Trẻ con nhờn mặt bao nhiêu thì nhờn!
     

    23A.

    Nguyên văn:

    君子成人之美,不成人之恶。小人反是。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Khổng Tử nói:  Người quân tử làm thành cái tốt cho người, không làm thành cái xấu cho người.  Kẻ tiểu nhân thì trái lại.
     

    C.

    Diễn ca:

    Quân tử nghĩ tốt cho người,
    Không tìm sơ hở chê cười nhỏ nhen.
    Tiểu nhân kể xấu thành quen,
    Tưởng chê thiên hạ, cái khen về mình.
     

    24A.

    Nguyên văn:

    孟子曰:君子不怨天,不尤人。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Mạnh Tử nói:  Người quân tử không oán trời, không trách người.
     

    C.

    Diễn ca:

    Nên, hư, quân tử trách mình,
    Với trời không oán, chẳng sinh trách người.
     

    25A.

    Nguyên văn:

    景行录云:夙兴夜寐所思忠孝者,人不知天必知之。饱食暖衣怡然自卫者,身虽安其如子孙何?以爱妻子之心事亲则尽孝,以保富贵之心事君则尽忠。以责人之心责己则寡过,以恕己之心恕人则全交。尔谋不及告之何及?尔见不长告之何益?利心专则背道,私意确则灭公。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Kẻ suốt ngày chỉ nghĩ đến điều trung hiếu người không biết nhưng trời tất biết.  Kẻ chỉ biết hớn hở bám lấy ăn no mặc ấm, thân tuy yên nhưng con cháu họ mới sao?  Ðem cái lòng yêu vợ con mà thờ cha mẹ tất trọn hiếu, đem cái lòng giữ gìn giàu sang ra thờ vua thì sẽ tận trung, đem cái lòng trách người ra trách mình thì ít lỗi, đem cái lòng tha mình ra tha người thì trọn nghĩa giao du.

    Ngươi tính chưa đến thế, ta báo cho ngươi chắc gì ngươi hiểu đến thế?  Ngươi tính chưa lâu dài, báo cho ngươi (tính lại) chắc gì có ích?  Chăm chăm đeo đuổi lòng ham lợi thì phản bội đạo lý.  Ý riêng đã bền chắc thì tiêu diệt lẽ công.
     

    C.

    Diễn ca:

    Chăm chăm trung hiếu đêm ngày,
    Người dù chưa rõ, trời hay biết liền.
    Chăm chăm no ấm cho mình,
    Mai sau ai biết sự tình cháu con?
    Thứ tình yêu vợ thương con,
    Ðem thờ cha mẹ hiếu tròn vẹn ngay.
    Bo bo phú quí khôn lay,
    Thờ vua được vậy, tôi ngay nhất đời!
    Trách người một, trách mình mười,
    Sẽ ít sai quấy, người đời ngợi khen.
    Với mình tha thứ vốn quen,
    Với người cũng vậy, giao tình bền lâu.
    Nếu ngươi chưa chịu nghĩ sâu,
    Giảng cho ngươi biết, ngươi đâu... học bài?
    Ngươi vụng tính kế lâu dài,
    Giảng ra ngươi hẳn chê bai lắm điều.
    Ham lợi lắm, lỗi đạo nhiều,
    Ý riêng bám chặt, tiêu điều lẽ chung...
     

    26A.

    Nguyên văn:

    会做快活人,凡事莫生事。会做快活人,省事莫惹事。会做快活人,大事化小事。会做快活人,小事化没事。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Người hiểu lẽ vui sống, việc đừng đẻ thêm việc.  Người hiểu lẽ vui sống, bớt việc không bày việc.  Người hiểu lẽ sống vui, việc lớn hóa việc nhỏ.  Người hiểu lẽ sống vui việc nhỏ hóa không việc.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
    Ðừng nên làm việc đẻ thêm cho.
    Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
    Ðừng quen trò việc bé xé to.
    Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
    Gặp việc to, thu bé cho xong.
    Ai hiểu cách sống cho vui vẻ,
    Việc nhỏ nhoi, coi nhẹ bằng không.
     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Giáo Sư Ngô Văn Lại

    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Trung Chánh @ 21:08 09/07/2011
    Số lượt xem: 1231
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Hiểu ý trời, dễ mấy ai!
    Thế nên lắm kẻ đêm dài xót xa.

    http://files.myopera.com/iamariver/blog/9229_1061884045801_1786959570_136470_7132154_n.jpg

     
    Gửi ý kiến