THỜI TIẾT HÔM NAY

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Vietnamese Dictionary

    Về Trang chủ

    Gốc > Minh Tâm >

    TỈNH TÂM (Phấn 2)

    http://thothan.files.wordpress.com/2009/03/flowers.jpg?w=300

    XI - Tuyển dịch thiên thứ mười một:  TỈNH TÂM

    21A.

    Nguyên văn:

    汉书云:曲突徙薪无恩泽,焦头烂额为上客。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Hán thư nói:  Kẻ uốn cong ống khói, dời củi đi thì không được coi là có ơn, kẻ cháy tóc bỏng trán lại làm thượng khách.
     

    C.

    Diễn ca:

    (Chuyển thể thơ ngụ ngôn)

     

    Hỏa hoạn ai cũng ngán,
    Cỏ kẻ khuyên đề phòng.
    Củi nên dời chỗ thoáng,
    Ống khói nên nắn cong.

    Lời khuyên, gác ngoài tai,
    "Kẻ khuyên" đành tiu nghỉu.
    Cả xóm hùa chê bai,
    "Kẻ khuyên" bấm bụng chịu.

    Quả nhiên xảy cháy nhà,
    Tài sản hao hơn nửa.
    "Kẻ khuyên" bận đi xa,
    Lối xóm xúm dập lửa.

    "Kẻ khuyên" đi xa về,
    Tìm lời sang an ủi.
    Thấy tiệc bày ê hề,
    Chủ nhân như muốn đuổi:

    - Quả là đồ xấu xa!
    Chỉ rủa nhà ta cháy!
    Giờ thì cháy thật rồi!
    Chắc có kẻ vui đấy!

    Lại quay sang khách mời:
    - Phước may nhờ các vị!
    Cụng ly một cái chơi!
    Hoan hô người tận tụy!

    "Kẻ khuyên" chua chát cười,
    Như học trò thi hỏng:
    "Mình tử tế mười mươi!
    Nhưng nói ra lại... ngọng."
     

    22A.

    Nguyên văn:

    三寸气在千般用,一旦无常万事休,万物莫逃其数,万般祥瑞不如无。天不生无禄之人,地不生无根之草,大富由天,小富由勤,大富则骄,大贫则忧。忧则为盗,骄则为暴。莫道家未成,成家子未生莫道家未破,破家子未大。成家之儿,惜粪如金,败家之子,用金如粪。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Ba tấc hơi còn, dùng cả nghìn việc, một sớm gặp chuyện vô thường (tức chết đi) thì muôn việc đều thôi.  Muôn vật chẳng trốn nổi số, muôn thứ điềm lành chẳng bằng không.  Trời chẳng sinh người không lộc, đất chẳng sinh cỏ không rễ.  Giàu to do trời, giàu nhỏ nhờ siêng năng.  Giàu lớn thì kiêu, nghèo lớn thì lo.  Lo thì làm trộm, kiêu thì tàn bạo.  Chớ nói nhà chưa nên, con làm nhà nên còn chưa sinh.  Chớ nói nhà chưa tan, con làm nhà tan còn chưa lớn.  Con làm nên nhà thì tiếc phân như vàng, con làm tan nhà, xài vàng như phân.
     

    C.

    Diễn ca:

    Còn hơi thở, còn xoay nghìn việc,
    Tắt hơi rồi, ai thiết chi chi.
    Số trời khi đã dứt đi,
    Muôn điều lành tốt đều thì bằng không.
    Trời sinh người cũng đồng hưởng lộc,
    Ðất sinh cỏ đủ gốc rễ thôi.
    Giàu to nhờ bởi số trời,
    Giàu nhỏ là bởi cả đời siêng năng.
    Kẻ giàu to, kiêu căng khinh bạc,
    Kẻ nghèo to, phờ phạc lo âu.
    Lo âu toan trộm nhà giàu,
    Kiêu nhà giàu bạo chẳng bao giờ vừa.
    Chớ nghĩ rằng nhà chưa phát đạt,
    Chẳng qua con kích phát chưa sinh.
    Ðừng cho nhà nọ vẫn yên,
    Chẳng qua đứa phá chờ phiên trưởng thành.
    Con nhà nên, quý phân như ngọc,
    Con nhà hư, coi ngọc như phân.
    Cơ trời biến chuyển xoay vần,
    Nên, hư, tốt, xấu dần dần lộ ra...
     

    23A.

    Nguyên văn:

    胡文定公曰:大抵人家须常教有不足处,若十分快意,提防有不恰好事出。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Ông Hồ Văn Ðịnh nói:  Tất cả mọi người phải thường giữ cho có sự chưa đủ.  Nếu mười phần thỏa ý phải đề phòng xuất hiện cái không ăn khớp với việc tốt.
     

    C.

    Diễn ca:

    "Cái chưa đủ" buộc người đối phó,
    Giải quyết nhanh khi có lôi thôi.
    Cái Tâm đã định thế rồi,
    Lôi thôi xảy đến vẫn coi chuyện thường.
    "Cái khoái ý" mọi đường thỏa mãn,
    Xem cuộc đời chẳng đáng bận tâm.
    Chủ quan nên dễ sinh nhầm,
    Tai ương xảy đến, thâm tâm rối bời...
     

    24A.

    Nguyên văn:

    康节邵先生曰:
    闲居慎勿说无妨,
    说无妨便有妨。
    爽口物多终作病,
    快心事过必为殃。
    争先径路机关恶,
    过后语言滋味长。
    与其病后能服药,
    不若病前能自防。
    饶人不是痴,过后得便宜。赶人不要赶上,捉贼不如赶贼。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thiệu Khang Tiết nói:  Lúc rảnh rang chớ nói là không hại gì.  Vừa nói không hại liền có hại.  Sướng miệng ăn nhiều rốt cuộc bị bệnh.  Gặp việc khoái ý tất có tai ương.  Tránh đi trước đường nhỏ gặp nạn bất ngờ.  Qua rồi lời lẽ nghiệm ra mùi vị thấm thía lâu.  Ðể lâm bệnh rồi mới tìm thuốc, không bằng biết tự phòng ngừa trước.  Tha người không phải là dại.  Vì sau đấy sẽ gặp sự thuận lợi.  Ðuổi người chẳng nên đuổi chận đầu.  Bắt giặc không bằng đuổi giặc.
     

    C.

    Diễn ca:

    Chớ nên bảo "Chẳng hề gì!"
    Dứt lời, có chuyện "hề gì" tới ngay.
    Món ngon đánh chén no say,
    Dễ sinh nên bệnh lo ngày lo đêm.
    Thấy việc thú vị lại thèm,
    Biết đâu chuốc họa nhiều thêm ích gì?
    Lối hẹp, đi trước dễ nguy,
    Nói sau mới đủ những gì hay ho.
    Lâm bệnh, xuôi ngược chăm lo,
    Chi bằng trước đấy phòng cho kỹ càng.
    Tha người, há kém khôn ngoan?
    Mai sau hẳn gặp dễ dàng cho ta.
    Rượt người, hãy chớ rượt nà,
    Bắt sống quân địch kém xa xua về.
     

    25A.

    Nguyên văn:

    梓潼帝君垂训:妙药难医冤债病,横财不富命穷人,亏心折尽平生福,行短天教一世贫,生事事生君莫怨,害人人害汝休嗔天地自然皆有报,远在儿孙近在身,药医不死病,佛化有缘人。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tử Ðồng Ðế Quân (*) buông lời dạy:  Thuốc hay không chữa được bệnh oan trái.  Của hoạnh tài không làm giàu được người mệnh cùng.  Lòng phụ bạc rút cạn hết phước bình sinh.  Nếu cư xử kém trời bắt nghèo cả đời.  Sinh sự tất sự sinh ngươi chớ oán.  Hại người tất người hại lại, mầy đừng cự nự.  Trời đất tự nhiên đều có báo đáp.  Xa thì đời con đời cháu, gần thì ở ngay đời mình.  Thuốc chữa thứ bệnh không chết, Phật hóa độ cho người có dịp may.
     

    C.

    Diễn ca:

    Bệnh oan trái thuốc nào chữa nổi?
    Của hoạnh tài chẳng đổi mạng nghèo.
    Cả đời làm phước dẫu nhiều,
    Trái lòng một việc, phước theo sạch liền!
    Tính nết kém, liên miên nghèo túng,
    Cán cân trời, cân đúng lòng trời.
    Gieo gì gặt nấy mà thôi,
    Khuyên ai chớ oán, buông lời sân si.
    Trời lẳng lặng duy trì báo ứng,
    Hoặc bản thân, hoặc hướng cháu con.
    Thuốc hay chỉ chữa người còn,
    Phật chỉ hóa độ tâm hồn gặp may.
     

    D.

    Chú thích:

    Tử Ðồng Ðế Quân:  Nhân vật vô cùng kỳ lạ trong đức tin người Trung Quốc (có lẽ khó được giới nghiên cứu tiếp thu).

    Lúc đầu ông là người thường, có tên là Trương Á Tử tức Trương Dục người núi Thất Khúc, làm quan đời Tấn (thế kỷ IV).  Năm Ninh Khang 2 (394) đời Hiếu Vũ đế nhà Ðông Tấn, ông tự xưng Thục vương khởi nghĩa chống nhà Tiên Tần, tử trận chôn ở núi Thất Khúc, thuộc quận Tử Ðồng.  Các đời Ðường, Tống về sau đều phong tặng ông tước Vương.  Ðến đời Nguyên Nhân Tông, năm 1316 ông được phong là Văn Xương Ðế Quân (!) cai quản... chùm sao Văn Xương (gồm sáu ngôi, phía tả chùm sao Bắc Ðẩu).

    Truyền thuyết kể rằng Văn Xương Ðế Quân hóa thân xuống trần gian làm quan 73 lần đều thanh liêm nên được Thiên Ðế giao quản lý Quế Tịch (hồ sơ công danh) điều hành việc đỗ đạt, thăng thưởng.

    Các đời Nguyên, Minh đều có lập Văn Xương Cung, Văn Xương Các, Văn Xương Từ, tế lễ trọng hậu cấp nhà nước.  Quy mô hoành tráng nhất là ở quận Tử Ðồng (nơi có lăng mộ Trương Á Tử).  Ở đấy còn xây dựng hàng loạt công trình phụ sử dụng như một trường đại học ngày nay.  Thánh đản được tổ chức thành lễ hội vào ngày 3 tháng 2 hàng năm.

    (Tóm tắt tư liệu của Châu Quân Vũ)
     

    26A.

    Nguyên văn:

    花落花开开又落,锦衣布衣更换着豪家未必长富贵,贫家未必常寂寞。扶人未必上青霄,推人未必填沟壑。凡事劝君莫怨天,天意

    人无厚薄。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Hoa rụng, hoa nở, nở xong lại rụng.  Áo gấm áo vải thay đổi nhau mặc.  Nhà hào phú chưa chắc cứ giàu mãi, nhà nghèo hèn chưa chắc lặng lẽ hoài.  Nâng người chưa chắc nâng tới trời xanh, đẩy người chưa chắc rơi đến khe mương.  Khuyên ngươi mọi việc không nên oán trời.  Ý trời không hậu với ai, không bạc với ai.
     

    C.

    Diễn ca:

    Hôm nay hoa rụng khắp trời,
    Ngày mai hoa nở nơi nơi tía hồng.
    Rồi ra rụng khắp tây đông,
    Ðời người gẫm lại cũng không khác nào.
    Hôm nay chức trọng quyền cao,
    Ngày mai áo vải rơi vào dân đen.
    Giàu nghèo đắp đổi luân phiên,
    Chẳng ai bền bỉ liên miên một bề.
    Xô người xuống tận đáy khe,
    Mai kia người cũng lăm le lên bờ.
    Nâng người lên tận mây trời,
    Mai kia người cũng sẽ rơi xuống trần.
    Ai ơi!  Xin chớ oán ngầm,
    Trời kia phân phát mọi phần công minh.
     

    27A.

    Nguyên văn:

    莫入州衙与县衙,
    劝君勤俭作生涯,
    池塘积水须防旱,
    田地勤耕足养家,
    教子教孙并教艺,
    栽桑栽柘少栽花,
    闲是闲非休要管,
    渴饮清泉闷煮茶。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Ðừng đến châu nha với huyện nha.  Khuyên ngươi cần kiệm để sinh nhai.  Ao vũng chứa nước phải phòng hạn.  Ruộng đất siêng cày đủ nuôi nhà.  Dạy con dạy cháu đều nên dạy nghề.  Trồng dâu trồng đố (*) ít trồng hoa.  Chuyện phải quấy vặt vãnh đừng bận tâm.  Khát uống suối trong, buồn uống trà.
     

    C.

    Diễn ca:

    Chớ nên bén mảng chốn quan nha,
    Cần kiệm làm ăn thế mới là!
    Ao vũng nước nhiều phòng hạn hán,
    Ruộng vườn cày cấy đủ nuôi nhà.
    Dạy nghề này nọ cho con cháu,
    Trồng đố, trồng dâu, bớt thích hoa.
    Mọi chuyện thị phi đừng vướng bận,
    Khát dùng nước suối, chán dùng trà.
     

    D.

    Chú thích:

    Ðố:  loài cây cho lá nuôi tằm, vỏ làm thuốc nhuộm, làm dây cung.
     

    28A.

    Nguyên văn:

    宽性宽怀过几年,
    人死人生在眼前。
    随高随下随缘过,
    或长或短莫埋怨。
    自有自无休叹息,
    家贫家富总由天。
    平生衣祿随缘度,
    一日清闲一日仙。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tính nhẹ nhõm lòng nhẹ nhõm được mấy năm rồi.  Người chết người sống ở trước mắt.  Gặp cao theo cao, gặp thấp theo thấp tùy từng lúc.  Có khi khá có khi kém không oán ngầm.  Có thì có, không thì không, chả than van.  Nhà nghèo hay giàu mặc lòng trời.  Cả đời hưởng lộc, cho phép mặc sao hay vậy.  Một ngày an nhàn là làm tiên một ngày.
     

    C.

    Diễn ca:

    Tâm hồn thanh thản mấy năm rồi,
    Chết sống chuyện thường trước mắt thôi.
    Cao thấp công danh không đếm xỉa,
    Dở hay tài trí chẳng thừa hơi.
    Dù không dù có thôi than thở,
    Nghèo túng giàu sang phó mặc trời.
    Cái mặc cái ăn sao cũng được,
    An nhàn mới sướng nhất trên đời.
     

    29A.

    Nguyên văn:

    家语云:君子有三思不可不察也。少而不学,长无能也。老而不教,死无思也。有而不施,穷无与也。是故君子少思其长则务学,老思其死则务教,有思其穷则务施。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Gia ngữ nói:  người quân tử có ba điều lo không thể không xét vậy:  nhỏ mà không học, lớn không có khả năng, già mà không dạy, chết đi không ai nghĩ đến, có mà không bố thí, lúc cùng khốn chẳng ai cho.  Thế cho nên người quân tử lúc nhỏ nghĩ đến khi lớn thì lo học, lúc già nghĩ đến cái chết nên lo dạy.  Khi có nghĩ đến khi cùng khổ nên lo bố thí.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ba cái lo lớn trên đời,
    Nhỏ không học hỏi, lớn thời vô năng.
    Già không truyền dạy tận tâm,
    Chết không ai nhớ, ai khâm phục mình.
    Khi giàu chẳng dốc nghĩa tình,
    Sa cơ thất thế kẻ khinh người cười.
    Lo xa, lúc trẻ không lười,
    Lúc già chăm dạy cho người gắng công.
    Lúc giàu bớt tiếc tiền nong,
    Ðem ra giúp đỡ kẻ không có tiền.
     

    30A.

    Nguyên văn:

    景行录云:能自爱者未必能成人,自欺者必罔人。能自俭者未必能周人,自忍者必害人。此无他为善难,为恶易。富贵易于为善,其为恶也亦不难。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Kẻ giỏi thương mình chưa chắc giỏi làm cho người ta nên.  Kẻ tự dối mình tất dối người.  Kẻ tiết kiệm cho mình chưa chắc chu cấp cho người.  Kẻ nhẫn tâm với mình tất hại người.  Như thế không có gì khác là làm điều thiện khó, làm điều ác dễ.  Giàu sang dễ làm điều thiện, mà làm điều ác cũng không khó.
     

    C.

    Diễn ca:

    Thương mình chưa chắc thương người,
    Dối mình, cầm chắc mười mươi dối người.
    Kẻ tiết kiệm của thường dư,
    Cũng dễ khước từ khi có người vay.
    Mạng mình coi tựa cỏ cây,
    Mạng người chắc cũng thẳng tay dễ dàng.
    Chẳng qua điều thiện khó làm,
    Ðiều ác thì dễ, chẳng ham vẫn rành.
    Giàu sang làm thiện cũng nhanh,
    Làm ác cũng chóng, tiến hành dễ hơn!
     

    31A.

    Nguyên văn:

    子曰:富而可求也,虽执鞭之士,吾亦为之如不可求,从吾所好。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Khổng Tử nói:  Giàu mà có thể tìm được, tuy làm tên lính cầm roi (đánh xe ngựa) ta cũng làm.  Nếu không thể tìm thì ta làm theo cái ta muốn.
     

    C.

    Diễn ca:

    Cái giàu nếu dễ kiếm ra,
    Dù đánh xe ngựa thì ta cũng làm.
    Còn như chẳng dễ gì ham,
    Thì ta đeo đuổi cách làm ta ưa.
     

    32A.

    Nguyên văn:

    千卷诗书难却易,一般衣饭易却难。天无绝人之路,一身还有一身愁。人无远虑必有近忧。轻诺者信必寡,面誉者背必非。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Nghìn cuốn thi thư khó mà dễ.  Một món áo cơm dễ mà khó.  Trời không cắt đứt đường của người nhưng mỗi người còn có mỗi nỗi sầu.  Người không nghĩ xa tất có lo gần.  Kẻ "ừ" dễ dàng quá tất ít đáng tin cậy.  Kẻ khen trước mặt sẽ chê sau lưng.
     

    C.

    Diễn ca:

    Sử sách khó mà dễ,
    Áo cơm dễ mà khó.
    Trời nào đóng cửa ai?
    Thế nhưng rầu vẫn có.
    Kẻ chẳng biết lo xa,
    Thì lo gần tất rõ.
    Kẻ vâng lời nhẹ tênh,
    Sẽ dễ dàng phủi bỏ.
    Kẻ khen ào trước mặt,
    Sau lưng sẽ chê đó!
     

    33A.

    Nguyên văn:

    景行录云:大丈夫见善明,故重名节於泰山;用心刚,故轻生死於鸿毛。外事无大小,中慾无浅深,有断则生,无断则死,大丈夫以断为先。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Bậc đại trượng phu thấy điều thiện sáng tỏ cho nên coi danh tiết nặng hơn Thái Sơn, dụng tâm cứng cỏi cho nên coi sống chết nhẹ hơn lông hồng.  Việc bên ngoài không kể là lớn hay nhỏ, dục vọng trong lòng không kể là cạn hay sâu, có quyết đoán thì sống, không quyết đoán thì chết.  Ðại trượng phu lấy quyết đoán làm đầu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Phàm là bản lĩnh đàn ông,
    Coi trọng danh dự hơn hòn Thái Sơn.
    Cái Tâm cứng cỏi chẳng sờn,
    Nên coi cái chết nhẹ hơn lông hồng.
    Việc dù lớn nhỏ mặc lòng,
    Dục vọng sâu cạn không vui, chẳng buồn.
    Việc đến tay, quyết đoán luôn,
    Rụt rè, dè dặt, nói suông, chẳng hề!
     

    34A.

    Nguyên văn:

    子曰:知而不为,不如勿知。亲而不信,不如勿亲。乐之方至,乐而勿骄,患之所至,思而勿忧。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Khổng Tử nói:  Biết mà không làm, không bằng đừng biết.  Thân mà không tin cậy, không bằng đừng thân.  Ðiều vui vừa đến, vui nhưng đừng kiêu, hoạn nạn vừa đến, nghĩ đến nó nhưng đừng lo âu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Hiểu biết nhưng chẳng chịu làm,
    Hơn gì những kẻ cứ cam ngu đần?
    Chẳng tin nhau, bảo rằng thân,
    Hơn gì những kẻ chẳng cần biết nhau?
    Chuyện vui dù lớn đến đâu,
    Chớ nên kiêu ngạo làm đau lòng người.
    Hoạn nạn xảy đến mười mươi,
    Nghĩ đến cứ nghĩ, ưu tư xin đừng!
     

    35A.

    Nguyên văn:

    经目之事犹恐未真,背后之言岂足深信?人不知己过,牛不知力大。不恨自家麻绳短,只恐他人古井深。侥倖脱,无辜报。赃滥满天下,罪拘福薄人。人心似铁,官法如炉。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Việc xảy ra trước mắt còn sợ chưa thật, lời nói sau lưng há đủ đáng tin?  Người không biết mình lỗi, trâu không biết sức lớn.  Không giận dây gai của mình ngắn mà chỉ sợ giếng cổ của người khác sâu. (Kẻ phạm tội) may mắn thoát, kẻ không phạm tội lại phải đền tội.  Kẻ lạm dụng quả tang khắp thiên hạ (nhưng) người phước mỏng bị ghép tội.  Lòng người như sắt, phép quan như lò.
     

    C.

    Diễn ca:

    Cái điều thấy rõ mười mươi,
    Chắc gì khỏi bị chê cười là sai?
    (Chọc que xuống nước gãy hoài,
    Mắt thì thấy vậy nhưng sai quá chừng!)
    Huống chi lời nói sau lưng,
    Nghe qua rồi bỏ, xin đừng quá tin.
    Người đời chẳng biết lỗi mình,
    Loài trâu chẳng biết sức bền đến đâu.
    Giếng kia mực nước quá sâu,
    Múc không tới, trách để lâu cạn rồi!
    Không hề nghĩ:  "Tại mình thôi,
    Dây ngắn quá rồi, gàu múc trên cao.
    Phạm tội lại thoát, may sao!
    Kẻ không gây tội lại vào nhà giam.
    Tham ô, lạm dụng tràn lan,
    Chỉ người phước mỏng liên can tù đày.
    Lòng người như sắt khó lay,
    Phép quan lò nấu, chảy ngay mấy hồi.
     

    36A.

    Nguyên văn:

    康节邵先生曰:有人来问卜,如何是祸福?我亏人是祸,人亏我是福。大厦千间,夜卧八尺。良田万顷,日食二升。不孝慢烧千束纸,亏心枉焚万炉香。神明本是正直做,岂受人间枉法赃?

    久住令人贱,頻来亲也疏。但看三五日,相见不如初。

    渴时一滴如甘露,醉后添杯不如无。酒不醉人,人自醉,花不迷人,人自迷。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thiệu Khang Tiết nói:  Có người đến xem bói, hỏi thế nào là họa phước?  Ta hại người là họa, người hại ta là phước.  Nhà lớn cả nghìn gian, đêm cũng chỉ nằm tám (*) thước.  Ruộng tốt muôn khoảnh (**), ngày ăn hai thăng.  Kẻ bất hiếu đốt bừa nghìn bó giấy, kẻ xấu bụng đốt oan muôn lò hương.  Thần minh vốn chính trực, há chịu cho người đời hối lộ, bẻ cong phép tắc?

    Ở lâu khiến người hóa hèn ra.  Ðến mãi thì kẻ thân thiết cũng thờ ơ.  Chỉ cần xem năm ba ngày gặp lại không bằng lúc mới đầu.

    Lúc khát thì một giọt cũng quý như cam lộ.  Say rồi thì thêm một chén không bằng không thêm.  Rượu không làm người say mà là người tự làm mình say.  Hoa không mê hoặc người mà là người tự tìm sự mê hoặc.
     

    C.

    Diễn ca:

    Có người đến bói Dịch,
    Hỏi:  "Họa phước đâu ra?"
    - Họa khi hại người khác,
    Phước khi người hại ta.
    Ðêm chỉ nằm tám thước,
    Dẫu có nghìn gian nhà.
    Ngày ăn hai thăng gạo,
    Dẫu ruộng tốt bao la,
    Ðốt cả núi hàng mã,
    Tưởng báo hiếu mẹ cha.
    Xông hương trầm nghi ngút,
    Tưởng tội lỗi được tha.
    Thần linh vốn ngay thẳng,
    Hối lộ dễ đâu mà!
    Mùi trầm cùng tro giấy,
    Bẻ cong phép tắc à?
    Ở lâu sinh nhờn mặt,
    Ðến hoài tình phôi pha.
    Thử ở năm ba bữa,
    Thấy khác lúc đầu xa!
    Ðang khát, quý từng giọt,
    Say rồi, coi như pha!
    Say rượu tại cố uống,
    Mê hoa chẳng tại hoa.
     

    D.

    Chú thích:

    Tám thước:  thước cổ, tương đương 1m92.

    Khoảnh:  đơn vị cổ, tương đương 50 ha.
     

    37A.

    Nguyên văn:

    公心若比私心,何事不辨?道念若同情念,成佛多时。过后方知前事错,老来方觉少时非。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Lòng dành cho việc chung nếu so được như lòng dành cho việc riêng thì việc gì mà không giải quyết xong?  Nghĩ đến đạo nếu bằng với nghĩ đến tình thì thành Phật lâu rồi.  Việc qua rồi, sau đó mới biết trước đó đã nhầm.  Già rồi mới biết thời trẻ sai quấy.
     

    C.

    Diễn ca:

    Việc chung hăng tựa việc riêng,
    Thì bao nhiêu việc nhẹ tênh cả rồi.
    Say đạo ngang say tình đời,
    Thì bao nhiêu người thành Phật từ lâu.
    Việc xong, nhầm lẫn thấy sau,
    Nhận sai thời trẻ, lúc đầu bạc phơ.
     

    38A.

    Nguyên văn:

    子曰:不知命无以为君子也。不知礼无以立也。不知言无以知人也。有德者必有言,有言者不必有德。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Khổng Tử nói:  Không biết về Mệnh thì không lấy gì chứng tỏ là người quân tử.  Không biết lễ thì không lấy gì để đứng (giữa đời) được.  Không biết về cách nói năng thì không lấy gì để biết người.  Kẻ có đức tất có cách nói năng, kẻ biết cách nói năng chưa chắc có đức.
     

    C.

    Diễn ca:

    Người quân tử lạc thiên, an mệnh,
    Không mưu toan bứt phá đổi đời.
    (Vẫy vùng để tạo cơ ngơi,
    Giữ sao vẹn được những lời dạy xưa?)
    Phải đứng vững trên đời bằng lễ,
    Chẳng kính nhường, chẳng thể làm người.
    Trong khi bàn bạc, nói cười,
    Hiểu sao cho đúng mọi lời đổi trao?
    Hiểu đúng ý, biết nhau mới rõ,
    Mới cùng nhau cởi bỏ bất đồng.
    Một khi đạo đức đầy lòng,
    Lời lời phát biểu sáng trong làu làu...
    Gặp những kẻ chuốt trau lời lẽ,
    Giọng ngọt ngào san xẻ cửa nhà.
    Ðề phòng bụng dạ xấu xa,
    Phần đức trống rỗng, ba hoa gạt người...

    39A.

    Nguyên văn:

    濂溪先生曰:巧者言,拙者默。巧者劳,拙者逸。巧者贼,拙者德。巧者凶,拙者吉。呜呼!天下拙,刑政彻,上安下顺,风清弊绝。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Chu Liêm Khê (*) nói:  Kẻ khôn khéo thì nói, kẻ vụng về làm thinh.  Kẻ khôn khéo thì nhọc, kẻ vụng về rảnh rỗi.  Kẻ khôn khéo thì gây hại, kẻ vụng về giữ đức.  Kẻ khôn khéo gặp việc dữ, kẻ vụng về gặp việc lành.  Hỡi ôi!  Thiên hạ vụng về thì việc sử dụng hình phạt phải dẹp bỏ, ở trên yên, ở dưới thuận, phong tục trong sáng, tệ nạn chấm dứt!
     

    C.

    Diễn ca:

    Kẻ khéo ăn nói hùng hồn,
    Kẻ vụng chỉ còn dựa cột mà nghe.
    Kẻ khéo xông xáo mọi nghề,
    Kẻ vụng rảnh rỗi, yên bề vô tâm.
    Kẻ khéo dễ vấp lỗi lầm,
    Kẻ vụng âm thầm để đức cho con.
    Kẻ khéo việc dữ đổ dồn,
    Kẻ vụng trái lại, chỉ còn việc hay.
    Hỡi ôi!  Thiên hạ ngày nay,
    Nếu toàn vụng dại, chẳng ai vào tù!
    Trên yên, dưới thuận êm ru,
    Phong tục trong sáng, thói hư chẳng còn!
     

    D.

    Chú thích:

    Chu Liêm Khê:  tức Chu Ðôn Di (1017 - 1073) nhà Lý học lừng danh đời Tống.
     

    40A.

    Nguyên văn:

    易曰:德微而位尊,智小而谋大,无祸者鲜矣。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Kinh Dịch nói:  Ðức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà mưu lớn, rất ít kẻ không gặp họa vậy.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ðức hèn kém, chiếm ngôi tôn qúi,
    Thật khó bề khỏi bị tai ương.
    Trí vừa đủ quản một phương,
    Ðem ra trị nước, khó đương mọi bề.
    Kẻ tham vọng chẳng hề nhận kém,
    Lại không ưa kẻ dám trái lời.
    Chỉ nghe miệng lưỡi xu thời,
    Gây nên bao cảnh hại người, hại ta.
     

    41A.

    Nguyên văn:

    说苑云:官怠於宦成,病加於少愈,祸生於懈惰,孝衰於妻子。察此四者慎终如始。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Thuyết Uyển nói:  quan trễ nãi vào lúc địa vị hình thành, bệnh nặng thêm vào lúc đỡ bớt, họa sinh ra ở lúc lười nhác ỷ y, hiếu suy khi bận bịu vợ con.  Xét kỹ bốn điều ấy để thận trọng lúc cuối như lúc đầu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Quan ngồi vững ghế mới lười,
    Bệnh thường trở nặng khi người đỡ đau.
    Thảnh thơi họa mới đến sau,
    Hiếu sa sút lúc bắt đầu vợ con.
    Cẩn thận nhớ giữ cho tròn,
    Trước sao sau vậy mới không sai lầm.
     

    42A.

    Nguyên văn:

    颜子曰:鸟穷则啄,兽穷则攫,人穷则诈,马穷则跌。自古及今,未有穷其下而能无危者也。着意栽花花不发,无心插柳柳成阴。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Chim cùng đường thì mổ, thú cùng đường thì vồ, người cùng đường thì gian trá, ngựa cùng đường thì đá.  Từ xưa đến nay chưa có ai đẩy kẻ dưới vào đường cùng mà không gặp nguy cả.  Có ý trồng hoa, hoa không phát triển, vô tâm cắm liễu, liễu rũ thành bóng râm.
     

    C.

    Diễn ca:

    Cùng đường chim cứ mổ bừa,
    Thú thì vồ đại, người ưa dối người.
    Cùng đường, ngựa đá hậu thôi,
    Xưa nay kẻ dưới bị "chơi" tới cùng.
    Thường là họ cũng nổi khùng,
    Chén đất, chén sứ vỡ chung là hòa.
    Trồng hoa, hoa chẳng trổ hoa,
    Cắm chơi cành liễu, lòa xòa bóng râm.
     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Giáo Sư Ngô Văn Lại

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Trung Chánh @ 23:38 20/07/2011
    Số lượt xem: 777
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến