THỜI TIẾT HÔM NAY

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Vietnamese Dictionary

    Về Trang chủ

    Gốc > Minh Tâm >

    HUẤN TỬ

    http://www.xuanha.net/OngoiGiadinh-giaoducconcai/ONGBADAYCHAU.gif

    X - Tuyển dịch thiên thứ mười:  HUẤN TỬ
     

    1A.

    Nguyên văn:

    司马温公曰:养子不教父之过,训导不严师之惰。父教师严两无碍,学问无成子之罪。暖衣 饱食居人伦,親我笑谈如土块。攀高不及下品流,稍遇贤才无与语。勉后生力求诲,投明师莫自昧。一朝云路果然登,姓名亚等呼先辈。室中若未结姻亲,自有佳人 求配匹。勉之汝等各早修,莫待老来空自悔。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tư Mã Ôn Công nói:  Nuôi con không dạy là lỗi của cha.  Dạy dỗ không nghiêm là thầy bê trễ.  Cha dạy thầy nghiêm, cả hai không trục trặc gì mà học vấn không thành là tội của con.  Ấm áo no cơm giữa cõi người mà chuyện trò với bà con cứ trơ như cục đất.  Vói cao không tới phải nhập vào lớp hạ lưu, có gặp bậc hiền tài cũng chẳng biết nói năng gì với họ.  Khuyên đám hậu sinh ra sức tìm thầy dạy, gửi thân nơi thầy sáng suốt, đừng tự làm cho mình ngu muội.  Một mai tiến lên đường công danh, tên họ mình được đám thấp hơn gọi là đàn anh.  Trong nhà nếu chưa kết hôn cũng có người đẹp tự đến xin làm vợ.  Khuyên các ngươi ai nấy sớm sửa chữa, đừng đợi đến già hối hận suông.
     

    C.

    Diễn ca:

    Nuôi con không dạy,
    Là lỗi của cha.
    Con học lơ là,
    Thầy chưa nỗ lực.
    Cha, thầy đúng mực,
    Học vấn vẫn chưa thành,
    Tội con rành rành,
    Vô phương chối bỏ.
    Áo cơm sẵn có,
    Thân thích quanh mình.
    Trò chuyện huyên thiên,
    Mình trơ cục đất!
    Liệt vào hạng thấp,
    Hạng cao khó chen.
    Gặp bậc tài năng,
    Ðâu dám trò chuyện.
    Mấy lời tâm nguyện,
    Gởi lớp hậu sinh,
    Ðem hết sức mình,
    Tìm thầy cho tốt.
    Ðừng làm mình dốt,
    May ra gặp thời,
    Tên đề bảng rồi,
    Người người kính nể.
    Dù nhà vắng vẻ,
    Còn sống độc thân,
    Thiếu chi giai nhân,
    Nguyền câu cầm sắt.
    Khuyên đừng để mất,
    Cơ hội tu thân,
    Về già ăn năn,
    Thẹn lây con cháu...
     

    2A.

    Nguyên văn:

    柳屯田劝学文:父母养其子而不教,是不爱其子也。虽教而不严,是亦不爱其子也。父母教而不学,是子不爱其身也。虽学而不勤,是亦不爱其身也。是故养子必教,教则必严,严则必勤,勤则必成。学则庶人之子为公卿,不学则公卿之子为庶人。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Bài văn khuyến khích việc học của quan Ðồn điền họ Liễu (*) viết:  Cha mẹ nuôi con mình mà không dạy là không yêu con mình.  Tuy dạy mà không nghiêm cũng là không yêu con mình.  Cha mẹ dạy mà không học là không yêu thân mình.  Tuy học nhưng không siêng năng cũng là không yêu thân mình vậy.  Thế cho nên nuôi con tất phải dạy, dạy thì tất phải nghiêm, nghiêm thì tất siêng, siêng thì tất nên.  Học thì con dân quèn làm công khanh, không học thì con công khanh làm dân quèn.
     

    C.

    Diễn ca:

    Nuôi con chỉ bởi bản năng,
    Như thế cầm bằng nuôi vật cảnh thôi.
    Dạy con qua quít lấy rồi,
    Kiểm tra lỏng lẻo ấy thời ghét con.
    Còn như dạy bảo ôn tồn,
    Con không học, tức không còn quý thân.
    Có học nhưng thiếu chuyên cần,
    Cũng là chẳng quý cái thân của mình.
    Nuôi con phải dạy, phải nghiêm,
    Con mới thành niềm an ủi mẹ cha.
    Có học, nghèo cũng tiến xa,
    Không học, giàu cũng hóa ra bần cùng.
     

    D.

    Chú thích:

    Quan Ðồn điền họ Liễu:  tức Liễu Kỳ Khanh (987 - 1055) người Phúc Kiến.  Ông đỗ tiến sĩ, làm đến chức Ðồn điền viên ngoại lang nhưng giới ăn chơi quen gọi ông là Bảy Liễu (Liễu Thất).  Ông là một từ gia lãng mạn, sống khá phóng túng.
     

    3A.

    Nguyên văn:

    白侍郎勉学文:有田不耕仓廪虚,有书不教子孙愚。仓廪虚兮岁月乏,子孙愚兮礼义疏。若为不耕与不教,乃是父兄之过欤!。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Bài văn khuyên gắng học của quan Thị lang họ Bạch nói:  Có ruộng không cày kho đụn rỗng.  Có sách không dạy con cháu ngu.  Kho đụn rỗng thì năm tháng thiếu hụt.  Con cháu ngu thì lễ nghĩa lỏng lẻo.  Nếu là không cày cùng không dạy mới là lỗi của cha anh vậy.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ruộng bỏ hoang, chẳng cấy cày,
    Kho tàng trống rỗng, chẳng hay ho gì!
    Có sách chẳng dạy chữ chi,
    Mặc cho con cháu ngu si hư đời.
    Chẳng cày, thiếu đói ngay thôi!
    Chẳng dạy, lễ nghĩa hỏng rồi nguy to!
    Không cày, không dạy, đáng lo,
    Phụ huynh xin hãy nhận cho lỗi mình!
     

    4A.

    Nguyên văn:

    汉书云:黄金满盈(盈,通“籝”,箱笼一类的容器。),不如教子一经;赐子千金不如教子一艺。至乐莫如读书,至要莫如教子。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Hán thư nói:  Chất vàng đầy rương không bằng dạy con một cuốn sách hay.  Ban cho con nghìn vàng không bằng truyền cho con một nghề.  Vui nhất không gì bằng dạy con.
     

    C.

    Diễn ca:

    Vàng ròng tích cóp đầy kho,
    Không bằng kinh sử dạy cho con mình.
    Ngàn vàng cho chúng mưu sinh,
    Không bằng dạy chúng cho tinh một nghề.
    Ðọc sách, vui thú trăm bề,
    Dạy con quan trọng, chớ hề thờ ơ!
     

    5A.

    Nguyên văn:

    孟子曰:古者易子而教之。父子之间不责善,责善则离,离则不祥莫大焉。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Mạnh Tử nói:  Người xưa đổi con mà dạy.  Giữa cha con không nên trách điều chưa phải.  Hễ trách là chia lìa, chia lìa là điều chẳng lành lớn nhất vậy.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ðổi con mà dạy mới hay,
    Mới dễ trách cứ, mới dày khôn ngoan.
    Cha cưng, con dễ làm càn,
    Cha nghiêm, con oán, tình càng tệ thêm.
    Xui nên chia rẽ đôi bên,
    Là điều bất hạnh khó quên nhất đời.
     

    6A.

    Nguyên văn:

    吕荣公曰:人生内无贤父兄,外无贤师友而能有成者鲜矣。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Lã Vinh Công nói:  Người đời mà trong nhà không có cha anh giỏi, ngoài đời không có thầy bạn giỏi mà làm nên được là hiếm lắm.
     

    C.

    Diễn ca:

    Gẫm ra kẻ sống trên đời,
    Cha, anh, thầy, bạn, không người giỏi giang.
    Tự thân vượt được khó khăn,
    Bản lĩnh, nghị lực, ai bằng nổi đâu!
     

    7A.

    Nguyên văn:

    太公曰:男子失教长大愚顽,女子失教,长大粗疏。养男之法,莫听诳语;育女之法,莫教离母。男年长大,莫习乐酒;女年长大,莫教游走。严父出孝子,严母出巧女。怜儿多与棒,憎儿多与食。怜儿无功,憎儿有力。桑条从小鬱,长大鬱不屈。人皆爱珠玉,我爱子孙贤。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thái Công nói:  Con trai mà mất sự rèn dạy thì lớn lên ngu bướng.  Con gái mà mất sự rèn dạy thì lớn lên vụng về sơ suất.  Phương pháp dạy con trai là đừng nghe nói dối.  Phương pháp dạy con gái là đừng để lìa xa mẹ.  Con trai tuổi lớn chớ tập thói ham vui nhạc rượu.  Con gái tuổi lớn đừng để chơi bời lêu lổng.  Cha nghiêm sinh con trai hiếu thảo.  Mẹ nghiêm sinh con gái khéo léo.  Thương con nên cho nhiều roi vọt, ghét con mới cho ăn uống nhiều.  Thương con chẳng làm nó thành công, ghét con làm nó có năng lực.  Cành dâu uốn khi nhỏ, lớn to uốn không cong.  Người ta đều yêu châu ngọc, ta yêu con cháu tài năng.
     

    C.

    Diễn ca:

    Con trai không dạy lớn đần,
    Con gái không dạy, lớn thân vụng về.
    Tránh đần, lời dối chớ nghe,
    Tránh vụng, mẹ phải kè kè thường xuyên.
    Con trai nhạc rượu chớ ghiền,
    Con gái chớ để mặc tình rong chơi.
    Cha nghiêm, trai mới nên người,
    Mẹ nghiêm, gái mới khôn lời, khéo tay.
    Thương con, roi vọt mới hay,
    Quà nọ, bánh này, là kiểu ghét con.
    Có thương, chưa chắc thành công,
    Có ghét con mới dốc lòng chữa sai.
    Muốn con nên đức, nên tài,
    Phải chăm uốn nắn từ ngày lên ba.
    Người đời yêu quý ngọc ngà,
    Còn ta yêu quý con ta hiền tài.
     

    8A.

    Nguyên văn:

    内则曰:凡生子,择于诸母与可者,必求其宽裕慈惠温良恭敬,慎而寡言者使为子师。能食教以右手,能言男唯女俞,男盘革,女盘丝。六年教之数与方名,七年男女不同席,不共食,八年出入门户及即席饮食必后长者。始教之让。九年教之数目。十年出就外傅居宿于外。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thiên Nội Tắc nói:  Hễ sinh con nên chọn ở bà mẹ có khả năng, tất tìm người khoan dung, hiền lành, ôn hòa cung kính, thận trọng mà ít lời, nhờ họ làm thầy cho con.  Con biết ăn cơm dạy cầm (đũa) tay phải.  Con biết nói, con trai phải dạ, con gái phải vâng, trai thắt lưng da, gái thắt lưng tơ.  Lên sáu tuổi dạy đếm số và gọi tên phương hướng.  Lên bảy tuổi, con trai con gái không ngồi chung chiếu, không ăn uống chung.  Lên tám tuổi ra vào cửa ngõ cho đến ngồi chiếu, ăn uống, tất phải làm sau người lớn, bắt đầu dạy tính kính trên nhường dưới.  Ðến chín tuổi, dạy chúng đếm ngày.  Ðến mười tuổi ra học thầy ngoài, ăn ngủ ở ngoài.
     

    C.

    Diễn ca:

    Phàm sinh con, phải nên chọn mẹ,
    Mẹ khoan dung, nhỏ nhẹ, ôn hòa.
    Kính nhường, cẩn thận mới là,
    Nói năng chừng mực, con ta nhận thầy.
    Biết ăn uống, thầy bày tay phải,
    Biết nói năng, trai dạ, gái vâng.
    Dây da trai tập thắt lưng,
    Dây tơ gái buộc, xem chừng hay hơn.
    Lên sáu dạy biết phương, đếm số,
    Biết gọi tên đúng, rõ bốn phương.
    Lên bảy, phái tính đã tường,
    Ngồi khác chiếu giường, ăn uống tách riêng.
    Lên tám tuổi học kiêng, học nể,
    Lúc ăn ngồi, giữ lễ kính nhường.
    Ra vào cửa ngõ, đi đường,
    Có người lớn, nhớ phải thường đi sau.
    Chín tuổi học đếm làu ngày tháng.
    Tuổi lên mười, bạo dạn ra ngoài.
    Tự tin, tự tại như ai,
    Ðến nhà thầy ngụ, trổ tài khiêm cung.
    Chữ bản lĩnh chưa từng đòi hỏi,
    Nhưng tập quen, gắng gỏi từ đây.
    Dù con là gái hay trai,
    Giũ rèn thế ấy, hiền tài chẳng xa.
     

    9A.

    Nguyên văn:

    庞德公诫子诗云:
    凡人百艺好随身,
    赌博门中莫去亲。
    能使英雄为下贱,
    解教富贵作饥贫。
    衣衫褴褛亲朋笑,
    田地消磨骨肉嗔。
    不信但看乡党内,
    眼前衰败几多人。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Bài thơ cảnh báo con của Bàng Ðức Công viết:  Người đời có cả trăm nghề để theo.  Chớ nên đến gần cửa cờ bạc.  Nó có khả năng khiến anh hùng làm kẻ thấp hèn.  Nó cởi bỏ giàu sang làm thành kẻ nghèo đói.  Áo xống lam lũ, bạn thân cũng chê cười.  Ruộng đất tiêu ma, cốt nhục gây gổ.  Không tin thì chỉ cần xem trong làng xóm.  Ðã có nhiều người suy bại ngay trước mắt.
     

    C.

    Diễn ca:

    Trăm nghề trong cõi người đời,
    Riêng nghề cờ bạc, con thời lánh xa.
    Anh hùng nó biến hèn ra,
    Giàu sang nó biến thành ma đói nghèo.
    Áo quần xơ xác não nề,
    Bạn bè cười giễu chẳng hề nể đâu!
    Ruộng vườn bán sạch từ lâu,
    Anh em gây gổ, quên câu ruột rà.
    Chẳng tin ngó kỹ làng ta,
    Tan cơ nát nghiệp phải là ít đâu!
     

    10A.

    Nguyên văn:

    一样人身几样心,
    一般茶饭一般人,
    同时天光同时夜,
    几人富贵几人贫。
    君子贫时有礼义,
    小人乍富便欺贫。
    东海龙王常在世,
    得时休笑失时人。
    大家忍耐随时过,
    知他谁是百年人。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Cùng một dáng người, mấy dáng tâm,
    Một loại trà cơm, một loại người.
    Cùng lúc sáng trời, cùng lúc đêm về,
    Mấy người giàu sang, mấy người nghèo?
    Quân tử lúc nghèo có lễ nghĩa.
    Tiểu nhân chợt giàu liền khinh nghèo.
    Ðông Hải Long Vương (*) thường ở đời,
    Ðược thời chớ cười người mất thời.
    Mọi người hãy nhẫn nại sống theo thời,
    Biết người khác ai sống được trăm năm?
     

    C.

    Diễn ca:

    Bề ngoài ai cũng giống ai,
    Bề trong, Tâm mới làm sai hạng người.
    Tuy cùng nước hớp, cơm xơi,
    Ði sáng về tối ta thời như nhau.
    Thế nhưng đây khó, đó giàu,
    Dù nghèo, quân tử giữ màu lễ nghi.
    Tiểu nhân giàu có gặp thì,
    Tỏ ngay cái vẻ khinh khi người nghèo.
    Muôn đời sóng biển vẫn reo,
    Vẫn nhìn nhân loại giàu nghèo luân phiên.
    Vẫn chứng kiến cảnh đảo điên,
    Kẻ đắc thế liền cười kẻ sa cơ.
    Theo thời, nấn ná ai ơi!
    Thử xem thiên hạ ai người trăm năm?
     

    D.

    Chú thích:

    Ðông Hải Long Vương:  vua Rồng cai quản biển Ðông, được coi là kẻ có mặt thường xuyên liên tục trên đời, chứng kiến đầy đủ các sự kiện.
     

    11A.

    Nguyên văn:

    瘦地开花晚,
    贫穷发福迟。
    莫道蛇无角,
    成龙也未知。
    但看天上月,
    团圆有缺时。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Ðất xấu trổ hoa muộn,
    Nghèo nàn phát phước chậm.
    Ðừng bảo rắn không sừng,
    Thành rồng chưa biết lúc nào.
    Chỉ cần xem trăng trên trời,
    Tròn trặn có lúc khuyết.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ðất cằn hoa nở muộn,
    Nghèo túng phước lâu về.
    Rắn không sừng chớ chê,
    Hóa rồng chẳng mấy chốc.
    Trăng tuy tròn có lúc,
    Cũng khuyết ngay đấy thôi!
     

     12A.

    Nguyên văn:

    万事由天莫强求,
    何需苦苦用心谋。
    三餐饭内休糊想,
    得一帆风便可收。
    生事事生何日了,
    害人人害几时休。
    冤家宜解不宜结,
    各自回头看後头。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Muôn việc do trời chớ có gượng tìm.  Sao phải khổ khổ dùng lòng tính mọi cách.  Chớ nên mơ tưởng hão huyền ngoài ba bữa cơm.  Gió no buồm rồi thì cuộn buồm lại.  Bày ra việc rồi việc đẻ việc ngày nào mới xong?  Lo hại người, lo người hại lại, lúc nào mới thôi?  Mối oan nên cởi không nên thắt.  Mỗi người hay quay đầu nhìn phía sau.
     

    C.

    Diễn ca:

    Gượng đòi chi nổi với trời?
    Nhọc công xoay xở, việc đời vẫn trơ.
    Ðược ăn ba bữa thôi mơ,
    Gió no buồm nghỉ, đừng chờ gió thêm.
    Việc đẻ việc, lúc nào êm?
    Hại người, người hại, ai thèm dừng đâu?
    Cởi oan, chớ thắt thêm sâu,
    Hãy quay nhìn lại phía sau mỗi người.
     

    13A.

    Nguyên văn:

    雀喙四顧食
    燕寝无疑心
    量大福亦大
    机深祸亦深

    B.

    Dịch nghĩa:

    Chim sẻ mổ ăn quay nhìn bốn phía.  Chim én ngủ thoải mái không nghi ngại gì.  Ðộ lượng lớn, phước cũng lớn.  Mưu cơ sâu họa cũng sâu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Chim sẻ lăng xăng ngảnh bốn bên,
    Tiểu nhân bận rộn thuở nào yên?
    Én kia nằm nghỉ lòng thanh thản,
    Quân tử bất tranh nhẹ nhõm mình.
    Ðộ lượng khoan hồng phước càng lớn,
    Tâm cơ thâm hiểm họa càng kinh.
     

     

     

     

     

     

    Giáo Sư Ngô Văn Lại
    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Trung Chánh @ 02:30 14/07/2011
    Số lượt xem: 1471
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Chim sẻ mổ ăn quay nhìn bốn phía.  Chim én ngủ thoải mái không nghi ngại gì.  Ðộ lượng lớn, phước cũng lớn.  Mưu cơ sâu họa cũng sâu.

    https://lh5.googleusercontent.com/-Ci0RMIjgeE4/TYChoRezk1I/AAAAAAAABHc/jslXtXGtAVg/s1600/beauty-nature-light05.jpg

    Avatar

    "Người đời mà trong nhà không có cha anh giỏi, ngoài đời không có thầy bạn giỏi mà làm nên được là hiếm lắm."

    http://img.vicongdong.vn/f_112360.file

     
    Gửi ý kiến