THỜI TIẾT HÔM NAY

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Vietnamese Dictionary

    Về Trang chủ

    Gốc > Minh Tâm >

    TỈNH TÂM (Phấn 1)

    http://files.myopera.com/o0tinhtritam0o/blog/HoaSen.jpg

    XI - Tuyển dịch thiên thứ mười một:  TỈNH TÂM
     

    1A.

    Nguyên văn:

    资世通训:阴法迟而不漏,阳宪近而有逃。阳网密而易漏,阴网疏而难逃。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Bài Tư thế thông huấn viết:  Phép trừng trị của cõi âm chậm mà không lọt.  Thể chế của cõi dương gần mà có cách trốn thoát.  Lưới cõi dương dày mà dễ lọt, lưới cõi âm thưa mà khó trốn thoát.
     

    C.

    Diễn ca:

    Phép trừng trị cõi âm khó thấy,
    Chậm nhận ra nhưng lại chắc sần.
    Thể chế nhà nước thật gần,
    Thiên hạ chỉ cần móc ngoặc thật hay.
    Tha hồ xa chạy cao bay,
    Lưới luật để sổng... cả bầy nhà lươn!
    Lưới cõi âm, vô phương móc ngoặc,
    Mắt lưới thưa, bởi thật lâu đời.
    Bao nhiêu tội dưới bầu trời,
    Lưới không để lọt dù người bé, to...
     

    2A.

    Nguyên văn:

    景 行录云:无瑕之玉,可以为国税。孝弟之子可以为家宝。宝贝用之有尽,忠孝享之无穷。家和贫也好,不义富如何?但存一子孝,何用子孙多?父不忧心因子孝,夫 无烦恼是妻贤。言多语失皆因酒,义断亲疏只为钱。既取非常乐,须防不测忧。乐极悲生。得宠思辱,居安虑危。荣盛辱大,利重害深。盛名必有重责,大功必有奇。甚爱必甚费,甚誉必甚毁。甚喜必甚忧,甚耻必甚亡。恩爱生烦恼,追随大丈夫。庭前生瑞草,好事不如无。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Viên ngọc không vết có thể làm thuế nước, con hiếu đễ có thế làm của gia bảo.  Của gia bảo dùng rồi cũng có khi hết, trung hiếu đem hưởng không hết.  Nhà hòa thuận thì nghèo cũng tốt, bất nghĩa thì giàu có ra gì?  Chỉ còn một đứa con hiếu, cần gì con cháu nhiều?  Cha không lo trong lòng vì con có hiếu, chồng không phiền não vì có vợ hiền.  Nói nhiều nói bậy đều do rượu, tình nghĩa chấm dứt, người thân chia lìa chỉ vì tiền.  Ðã nhận cái vui bất thường thì nên phòng mối lo bất trắc.  Vui tột độ thì buồn sinh ra, được yêu chiều phải nghĩ đến lúc chịu nhục.  Ở cảnh yên vui phải lo lúc nguy cấp.  Vinh nhiều thì nhục lớn.  Lợi nặng thì hại sâu, danh vọng càng lớn thì khiển trách càng nặng, công to tất có khi cùng khốn kỳ lạ.  Yêu lắm tất sử dụng lắm, khen lắm tất xỉ vả lắm, vui lắm tất lo lắm, xấu hổ lắm tất mất lắm.  Ái ân sinh phiền não, đeo đuổi đại trượng phu.  Trước sân mọc lên cỏ báo điềm tốt.  Dù có gặp việc tốt cũng không bằng không có.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ngọc quý có thể thay quốc thuế (*),
    Gia bảo là con hiếu trong nhà.
    Ngọc dùng sẽ hết thôi mà!
    Chỉ điều trung hiếu mới là bền lâu.


    Nhà bất nghĩa, càng giàu càng bậy.
    Nhà thuận hòa, nghèo mấy vẫn hay.
    Chỉ cần một đứa thảo ngay,
    Ðâu cần chi phải đông đầy cháu con?


    Con hiếu thảo, cha không lo lắng,
    Vợ hiền hòa, chồng chẳng đau đầu.
    Lắm lời lải nhải đâu đâu,
    Chẳng qua lỡ uống phải bầu Ðỗ Khang (*).


    Chỗ anh em, họ hàng xào xáo,
    Chỉ vì không chu đáo tiền nong.
    Khi niềm vui rộn rã lòng,
    Phải nên đề phòng sẽ gặp lo âu.


    Vui vẻ lắm, âu sầu càng lắm,
    Nhục đến ngay say đắm yêu vì.
    Sống yên phải tính sẽ nguy,
    Vẻ vang phải liệu gặp kỳ nhuốc nhơ.


    Lợi càng nặng, hại chờ càng nặng,
    Danh to thì khó tránh trách phiền.
    Ðược yêu, cuộc sống khó yên,
    Ðược khen tất phải hứng liền chê bai.


    Vui mừng cứ đan cài lo lắng,
    Xấu hổ luôn, ắt hẳn trơ lì.
    Chừng như xấu hổ mất đi,
    Nhưng nào có ích được gì cho cam!


    Chuyện ân ái dễ làm mệt óc,
    Chẳng buông tha những bậc trượng phu.
    Cho dù may mắn có dư,
    Việc hay thì cũng chẳng như đừng làm.
     

    D.

    Chú thích:

    Quốc thuế:  thuế nước, tức cống phẩm của nước nhỏ nộp nước lớn để tỏ ý thần phục.

    Ðỗ Khang:  tên người nấu rượu đầu tiên, được dùng làm tiếng lóng chỉ rượu.

    (Chú ý:  Ðoạn văn trên vận dụng thuyết Vô Vi của Lão giáo cách nay 25 thế kỷ, không hẳn là "bảo giám" làm "minh tâm" con người ngày nay).
     

    3A1.

    Nguyên văn:

    素书云:推古验今所以不惑。欲知未来,先察已往。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Tố thư nói:  Suy xưa nghiệm nay là để khỏi lầm.  Muốn biết vị lai, trước phải xét dĩ vãng.
     

    C.

    Diễn ca:

    Muốn cho xét việc khỏi nhầm,
    Thì phải sưu tầm kinh nghiệm người xưa.
    Chẳng nên nghĩ cạn, làm bừa,
    Con người phải chừa dấu vết bản năng.
     

    3A2.

    Nguyên văn:

    多劳拙厌闲,
    善嫌懦弱恶嫌顽。
    富遭嫉妬贫遭贱,
    勤曰贪婪俭曰悭。
    触目不分皆笑蠢,
    见机而作又言奸。
    思量那件当教做,
    做人难做做人难。
           
    为人难,
           
    为人难。
    写得纸尽笔头干,
    更写几句为人难。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Kẻ khéo chán nhiều nhọc, kẻ vụng chán nhàn rỗi.

    - Người thiện bị ghét là nhu nhược, kẻ ác bị ghét là ương ngạnh.

    - Kẻ giàu bị ghen ghét, kẻ nghèo bị khinh bỉ.

    - Kẻ siêng bị cho là tham lam, kẻ kiệm bị cho là bủn xỉn.

    Thấy tận mắt mà không nhận ra mọi người đều cho là ngu ngốc.

    Nhìn ra vận hội mà làm lại có kẻ nói là gian hùng.

    Nghĩ kỹ những chuyện ấy nên phải làm.

    Làm người khó, làm chuyện làm người khó.

    Làm người khó thay!  Làm người khó thay!

    Viết cho hết giấy, bút khô mực.

    Lại vẫn phải viết mấy câu:  Làm người khó thay!
     

    C.

    Diễn ca:

    Khéo thì quá nhọc, vụng chê nhàn,
    Thiện, cười nhu nhược.  Ác, làm càn!
    Giàu, người căm ghét.  Nghèo, khinh rẻ,
    Siêng, chuốc tiếng tham.  Kiệm, rán sành. (*)
    Nhận định mù mờ, chê:  kẻ ngốc,
    Ra tay nhanh nhạy, mỉa:  quân gian!
    Nghĩ sao cho đúng?  Làm sao đúng?
    Thật khó làm người!  Khó tính toan!
    Mực cạn, bút cùn ngồi chép mãi:
    Làm người là việc khó muôn vàn!
     

    D.

    Chú thích:

    Rán sành:  tức "rán sành ra mỡ" thành ngữ cay độc mắng kẻ quá keo kiệt lại ngu xuẩn, thấy mảnh sành bóng láng, tưởng có lớp mỡ bám ngoài (!)
     

    4A.

    Nguyên văn:

    景行录云:木有所养则根本固而枝叶茂,栋梁之材成。水有所养则源泉壮而流脉长,灌溉之利博。人有所养则志气大而见识明,忠义之士出。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Cây có cách nuôi thì gốc rễ bền mà cành lá tốt, đồ làm rường cột mới thành.  Nước có cách nuôi thì suối nguồn khỏe, dòng chảy dài, cái lợi tưới tiêu được rải khắp.  Người có cách nuôi thì chí khí lớn mà kiến thức sáng suốt, kẻ sĩ trung nghĩa mới xuất hiện.
     

    C.

    Diễn ca:

    Cây kia chăm sóc khéo tay,
    Mới bền gốc rễ, mới đầy lá xanh.
    Gỗ làm kèo, cột mới thành,
    Nhà cao cửa rộng phải đành nhờ cây.
    Nước kia chăm sóc khéo tay,
    Suối nguồn mới khỏe, mới dài kênh, sông.
    Tưới, tiêu mới khắp ruộng đồng,
    Mới giúp con cháu nhà nông no đầy.
    Người mà chăm sóc ngày ngày,
    Chí khí phát triển, trí tài mới tinh.
    Trung nghĩa từ đấy mới sinh,
    Ðất nước nhờ đấy quang vinh thêm nhiều.
     

    5A.

    Nguyên văn:

    左传云:意合则吴越相亲,意不合则骨肉为仇敌。
    疑人莫用,用人莫疑。
    物极则反,乐极则悲,大合必离,势盛必衰,否极泰来。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Tả truyện nói:  Ý hợp thì Ngô Việt (*) thân nhau.  Ý không hợp thì tình ruột thịt cũng làm cừu địch.  Nghi người thì đừng dùng, dùng người thì đừng nghi.

    Vật phát triển đến tột cùng thì phải quay ngược lại:  vui tột cùng thì đau buồn, hợp tới tột cùng thì chia lìa, thế lực thịnh tất sẽ suy, suy tột cùng thì thịnh lại.
     

    C.

    Diễn ca:

    Hợp ý, thù cũng yên,
    Thù nhau, nếu trái ý.
    Dùng người, đừng nghi kỵ,
    Nghi kỵ thì đừng dùng.
    Vật phát triển đến cùng,
    Quay trăm tám mươi độ. (180°)
    Vì thế, vui... hết số,
    Tất phải chuyển ra buồn.
    Liên kết phình đến cùng,
    Mầm ly khai nhen nhóm.
    Thế lực tột cùng lớn,
    Tất sắp sửa suy vong.
    Chịu hết hồi long đong,
    Tất hưởng mùi sung sướng...
     

    D.

    Chú thích:

    Ngô Việt:  tên hai nước chư hầu đánh nhau quyết liệt vì thù hận truyền kiếp.  Cuối cùng, Việt tiêu diệt Ngô.
     

    6A.

    Nguyên văn:

    水底鱼,天边雁,高可射兮低可钓。惟有人心咫尺间,咫尺人心不可料。天可度,地可量,惟有人心不可防。画虎画皮难画骨,知人知面不知心。对面与语,心隔千山。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Cá đáy nước, nhạn bên trời, cao có thể bắn, thấp có thể câu, chỉ có lòng người trong khoảng gang tấc (*) nhưng gang tấc ấy không thể đo, đất có thể lường chỉ có lòng người không thể ngừa.  Vẽ hổ vẽ da khó vẽ xương.  Biết người biết mặt không biết lòng.  Ðối diện chuyện trò, lòng cách nghìn non.
     

    C.

    Diễn ca:

    Cá đáy nước, nhạn bên trời,
    Dễ câu, dễ bắn, lòng người mới gay.
    Thà đo trời thẳm đất dày,
    Lòng người nham hiểm dễ ai biết ngừa?
    Xương hùm ai dám vẽ chưa?
    Vẽ da, ai cũng biết vừa sức hơn!
    Chuyện trò tay bắt mặt mừng,
    Lòng đây lòng đấy nghìn trùng cách xa.
     

    D.

    Chú thích:

    Gang tấc:  nguyên văn "chỉ xích" mô tả khoảng cách không đáng kể (chỉ: 0.256m, xích: 0.32m).
     

    7A.

    Nguyên văn:

    太公曰:凡人不可逆相,海水不可斗量。劝君莫结冤,冤深难解结。一日结成冤,千日解不彻。若将恩报冤,如汤去泼雪。若将冤报冤,如狼重见蝎。我见结冤人,尽被冤磨折。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thái Công nói:  Người ta không nên đoán trước qua bề ngoài.  Nước biển không thể đong bằng chén uống rượu.  Khuyên người chớ kết oan, oan sâu khó cởi ra.  Một ngày kết thành oan, nghìn ngày cởi chẳng sạch.  Nếu đem ơn đáp oan, như đem nước sôi dội tuyết.  Nếu đem oan đáp oan, như chó sói gặp bọ cạp.  Ta thấy những người kết oan đều bị oan làm cho sứt mẻ cả.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ðừng xét người đời kiểu đoán trước,
    Nước biển đem cốc lường sao được?
    Khuyên ai chớ có kết oan gia,
    Oan gia đã buộc khó gỡ ra.
    Oan gia, dù chỉ một ngày kết,
    Cởi suốt nghìn ngày cũng không hết.
    Nếu đem ơn nghĩa đáp oan gia,
    Như dội nước sôi, tuyết chảy ra.
    Nếu cứ đem oan báo oan riết,
    Sói gặp bọ cạp chịu hết xiết.
    Ta từng thấy bao kẻ gây oan,
    Hết thảy đều chuốc bao nguy nan...
     

    8A.

    Nguyên văn:

    景行录云:结冤于人,谓之种祸,舍善不为,谓之自贼。莫信直中直,须防仁不仁。礼义生于富足,盗贼起于饥寒。贫穷不与下贱而下贱自生,富贵不与骄奢而骄奢自至。

    饱暖思淫欲,饥寒起盗心。长思贫难危困自然不骄,每念疾病熬煎并无愁闷。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Kết oan với người gọi là trồng họa, bỏ việc thiện không làm gọi là tự hại mình.  Chớ tin cái gọi là thẳng của kẻ thẳng, phải đề phòng cái bất nhân của người nhân.  Lễ nghĩa nảy sinh nơi giàu đủ, trộm cướp nổi lên nơi đói rét.  Nghèo nàn không đi cùng hạ tiện mà hạ tiện tự sinh.  Giàu sang không đi cùng kiêu xa nhưng kiêu xa tự đến.

    No ấm nghĩ đến dâm dục, đói rét nổi lên lòng trộm cắp.  Nghĩ mãi đến nghèo khổ, tai nạn nguy khốn, tự nhiên không kiêu.  Nhớ mãi đến tật bệnh thuốc thang sẽ không sầu muộn.
     

    C.

    Diễn ca:

    Kết oan, trồng họa chờ ngày,
    Vứt bỏ việc thiện, gây tai ương mình.
    Thẳng thắn chưa hẳn đủ tin,
    Trong nhân, nhận rõ tình hình bất nhân.
    Khi giàu, lễ nghĩa đến gần,
    Khi nghèo, thói trộm dần dần nảy sinh.
    Ðã nghèo tự khắc hóa hèn,
    Ðã giàu, xa xỉ, kiêu căng nẩy liền.
    No đầy, tơ tưởng... "chơi tiên",
    Ðói rét nghĩ cách kiếm tiền thật nhanh.
    Thấp thỏm sợ chuyện chẳng lành,
    Tự chữa cho mình khỏi thói kiêu căng.
    Nhớ hoài bệnh tật, thuốc men,
    Tự nhiên xóa sạch buồn phiền quấy ta.
     

    9A.

    Nguyên văn:

    疏广曰:贤人多财则损其志,愚人多财则益其过。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sớ Quảng nói:  Người giỏi có nhiều của thì hao tổn chí hướng của họ.  Người ngu có nhiều của thì càng có thêm cái lỗi của họ.
     

    C.

    Diễn ca:

    Người giỏi có lắm của,
    Của làm nhụt chí đi.
    Kẻ ngu có lắm của,
    Của xui tội thêm ghi.
     

    10A.

    Nguyên văn:

    老子曰:多财失其守正,多学惑于所闻。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Lão Tử nói:  Của nhiều làm mất đi cái chân lý mình bám giữ.  Học nhiều làm nghi hoặc vốn kiến thức đã thu thập.
     

    C.

    Diễn ca:

    Của nhiều, lý tưởng hao đi,
    Học nhiều, nghi hoặc những gì tưởng hay.
     

    11A.

    Nguyên văn:

    人非尧舜,焉能每事尽善?人贫志短,福至心灵。不经一事,不长一智。成则妙用,败则不能。是非终日有,不听自然无。来说是非者,便是是非人。若听二面说,便见相离别。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Người ta không phải là vua Nghiêu vua Thuấn (*) làm sao mọi việc đều tốt hết mức được?  Người nghèo thì lập chí kém, phước đến thì lòng tinh tế ra.  Không từng trải một việc thì không khôn ra một chút, việc thành thì cho là tuyệt vời, việc bại thì cho là không có khả năng.  Phải trái cả ngày phải có.  Cứ không nghe là tự nhiên thành không có.  Kẻ đến nói chuyện phải trái tức là con người lắm chuyện.  Nếu nghe hai kẻ lắm chuyện như thế nói, sẽ thấy cả hai cách biệt hẳn nhau.
     

    C.

    Diễn ca:

    Nghiêu Thuấn là mẫu người xưa,
    Ngày nay ai dám so bừa thánh quân?
    Nhà nghèo lập chí khó khăn,
    May ra phước đến, khôn lanh ít nhiều.
    Việc đời chưa trải bao nhiêu,
    Dễ chi tài trí cao siêu hơn đời?
    Việc thành, ca ngợi vẽ vời,
    Việc hỏng chuốc lấy bao lời chê bai.
    Phải quấy ai chẳng một vài,
    Nghe đâu bỏ đấy chẳng ai phiền lòng.
    Kẻ đem phải quấy phao đồn,
    (Là trò khó phỉnh người khôn mắc lừa!)
    Nếu nghe hai phía phân bua,
    Thấy ngay là chả ai vừa với ai!
     

    D.

    Chú thích:

    Nghiêu Thuấn:  vua Ðường Nghiêu (2357 - 2256 trước Công Nguyên) và Ngu Thuấn (2255 - 2206 trước Công Nguyên).  Tương truyền là hai vị vua đạo đức nhất.
     

    12A.

    Nguyên văn:

    击壤诗云:平生不作皱眉事,天下应无切齿人。爾害别人犹自可,别人害却何如?嫩草怕霜霜怕日,恶人自有恶人磨。有名岂在镌顽石,路上行人口胜碑。有麝自然香,何必当风立?

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thơ Kích Nhưỡng (*) nói:  Trong đời không làm việc nhíu mày, thiên hạ sẽ không có người nghiến răng.  Mầy hại người khác thì mầy cho là được, người khác hại mầy thì mới sao?  Cỏ non sợ sương, sương sợ mặt trời.  Kẻ ác tự nhiên có kẻ ác giũa mài nó.  Có danh há ở chỗ khắc vào đá cứng?  Những người đi trên đường có miệng hơn bia đá.  Có xạ tự nhiên thơm.  Cần gì phải đứng đầu gió?
     

    C.

    Diễn ca:

    Ðừng làm thiên hạ chau mày,
    Thì thiên hạ chẳng có ai căm hờn.
    Mầy hại người, tưởng mầy hơn,
    Người ta hại lại, mầy còn nói chi?
    Cỏ non sương muối teo đi,
    Mặt trời rọi xuống, sương kia tan tành.
    Kẻ ác cứ tưởng lừng danh,
    Phải tôn kẻ khác đàn anh mấy hồi?
    Danh đâu khắc đá đỉnh đồi?
    Nó nằm ở miệng người đời đấy thôi.
    Xạ thơm thì đã thơm rồi,
    Cần chi phải đặt ở nơi gió nhiều?
     

    13A.

    Nguyên văn:

    张无曰:事不可使尽,势不可倚尽言不可道尽,福不可享尽。有福莫享尽,福尽身贫穷。有势莫倚尽,势尽冤相逢。福兮常自惜,势常自恭。人生骄与侈,有始多无终。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Trương Vô Tận nói:  Việc không nên làm đến hết, thế không nên ỷ hết, nói không nên nói hết, phước không nên hưởng hết.  Có phước không hưởng hết, phước hết mình nghèo túng.  Có thế không dùng hết, thế hết gặp oan trái.  Phước phải thường tiếc, thế phải thường cung kính.  Người kiêu căng với xa xỉ chỉ có được lúc đầu, phần nhiều không có lúc cuối.
     

    C.

    Diễn ca:

    Việc đời giữ mực vừa vừa,
    Cần phải biết chừa khoảng cách an ninh.
    Chớ nên dốc hết bình sinh,
    Có quyền thế phải giữ mình khiêm cung.
    Nói năng cũng phải dè chừng,
    Có phước chớ hưởng đến cùng cho xong.
    Hết phước sẽ gặp long đong,
    Hết quyền thế, chuốc mối oan là thường.
    Hưởng phước phải biết dè chừng.
    Hưởng quyền thế phải nhún nhường giữ thân.
    Những người xa xỉ, kiêu căng,
    Chỉ được vênh váo, hung hăng lúc đầu.
    Rồi ra lép vế về sau,
    Ai ơi!  Hãy liệu khuyên nhau vừa vừa!
     

    14A.

    Nguyên văn:

    太公曰:贫不可欺,富不可侍。阴阳相推,周而复始。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Thái Công nói:  Nghèo không thể khinh, giàu không thể cậy, âm dương đắp đổi nhau, giáp vòng là quay lại lúc đầu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Thấy nghèo thì chớ có khinh,
    Thấy giàu chớ tưởng là mình dễ vay.
    Âm dương đắp đổi vần xoay,
    Hôm qua nghèo đấy, hôm nay giàu rồi!
    Ngày mai nghèo lại ngay thôi,
    Thế là vận số đã trôi giáp vòng.
     

    15A.

    Nguyên văn:

    王参政四留铭言:
    留有余不尽之功以还造化;
    留有余不尽之禄以还朝廷;
    留有余不尽之财以还百姓;
    留有余不尽之福以遗子孙。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Bài minh “Ðể lại bốn cái” của Vương Tham Chính viết:

    - Ðể lại phần còn thừa của công lao chưa hưởng hết trả lại Tạo Hóa.

    - Ðể lại phần còn thừa của bổng lộc chưa hưởng hết trả lại triều đình.

    - Ðể lại phần còn thừa của tiền tài chưa hưởng hết trả lại trăm họ.

    - Ðể lại phần còn thừa của phước đức chưa hưởng hết trả lại con cháu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Công lao xin hưởng vừa vừa,
    Ðể lại phần thừa trả Tạo Hóa thôi.
    Bổng lộc cũng đã hưởng rồi,
    Ðể phần thừa lại trả nơi triều đình.
    Tiền tài hưởng đủ phần mình,
    Phần thừa để lại chúng sinh làm quà.
    Phận may hưởng được phước nhà,
    Dành cho con cháu, bớt ra một phần.
     

    16A.

    Nguyên văn:

    汉书云:势交者近,势尽而亡。财交者密,财尽则疏。色交者亲,色衰义绝。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Hán thư nói:  Kẻ giao du bằng quyền thế thì rất thân cận, nhưng quyền thế hết là mất.  Kẻ giao du bằng tiền tài thì rất thân mật nhưng tiền tài hết thì rời nhau.  Kẻ giao du bằng nhan sắc thì rất thân nhau nhưng sắc suy là cắt đứt.
     

    C.

    Diễn ca:

    Thân nhau cùng chức vị cao,
    Một bên mất chức, là xao lảng tình?
    Thân nhau giữa kẻ lắm tiền,
    Một bên phá sản là quên tức thì!
    Thân nhau nhan sắc mê si,
    Một bên bệnh hoạn nan y là rời!
    Ai ơi xin nhắn một lời:
    "Tỉnh tâm" cho kỹ mới thôi "thân" nhầm!
     

    17A.

    Nguyên văn:

    黄金千两未为贵,得人好语胜千金。千金易得,好语难求。求人不如求己,能管不如能推,用心闲管是非多。能者乃是拙之奴。知事少时烦恼少,识人多处是非多。小船不堪重载,深径不宜独行。踏实地无烦恼。黄金未为贵,安乐值钱多。非财害己,恶语伤人。人为财死,鸟为食亡。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Vàng ròng nghìn lạng chưa phải là quý.  Ðược của người một lời nói tốt quý hơn nghìn vàng.  Nghìn vàng dễ có được, lời nói tốt khó tìm được.  Ðòi hỏi người không bằng đòi hỏi mình.  Cai quản giỏi không bằng triển khai giỏi.  Nặng lòng cai quản sẽ gặp nhiều rắc rối.  Kẻ có khả năng là đầy tớ kẻ vụng dại.  Lúc biết ít việc thì ít phiền não, biết người nhiều quá thì chịu nhiều thị phi.  Thuyền bé không chịu nổi chở nặng, lối đi rậm khuất không nên đi một mình.  Giẫm lên chỗ đất chắc thì không gặp chuyện phiền não.  Vàng ròng chưa phải là quý, yên vui có giá trị hơn tiền nhiều.  Của phi nghĩa làm hại mình, lời dữ làm tổn thương người.  Người chết vì của, chim chết vì mê ăn.
     

    C.

    Diễn ca:

    Nghìn vàng chưa hẳn quý đâu,
    Lời hay lắm lúc in sâu nhiều đời.
    Nghìn vàng kiếm cũng ra thôi,
    Dễ gì kiếm được một lời hay ho?
    Ðòi hỏi mình, mới đáng lo,
    Ðòi hỏi người, chỉ tính cho nhất thời.
    Giữ cái có, đã khó rồi,
    Mở mang cái có, muôn đời ngợi khen.
    Ở đời, những kẻ tài năng,
    Chỉ làm đầy tớ mấy anh vụng về.
    Biết ít, chuyện đỡ nhiêu khê,
    Biết nhiều người, chốn, lắm bề thị phi.
    Thuyền con chở nặng khó đi,
    Nẻo đường rậm khuất, ngại khi một mình.
    Vì mồi, chim dễ hy sinh,
    Vì của thiên hạ bỏ mình như chơi!
     

    18A.

    Nguyên văn:

    景 行录云:利可共而不可独,谋可独而不可众。独利则败,众谋则洩。机不密先发。不孝怨父母,负债怨财主,食多嚼不细,家贫愿邻有。在家不会迎宾客,出外方知 少主人。但愿有钱留客醉,胜如骑马倚人门。贫居闹市无人问,富在深山有远亲。世情看冷暖,人面逐高低。仁义尽从贫处断,世情偏向有钱家。吃尽千般无人知衣衫褴褛被人欺。宁塞无底坑,莫塞鼻下横。马行步慢只因瘦,人不风流只为贫。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Cảnh Hạnh chép:  Lợi có thể chung mà không thể một mình, mưu có thể một mình mà không thể đông người.  Lợi một mình thì hư, mưu đông người thì rò rỉ.  Mưu cơ không kín đáo thì họa xảy ra trước.  Ðứa bất hiếu oán cha mẹ, kẻ mắc nợ oán chủ nợ.  Tham nhiều nhai chẳng nát, nhà nghèo mong láng giềng có của.  Ở nhà không biết đón khách, đi ra mới biết ít chủ nhân.  Chỉ mong có tiền giữ khách ở lại nhậu còn hơn cưỡi ngựa tựa cổng người khác.  Kẻ nghèo ở nơi chợ đông không có người hỏi, kẻ giàu ở non sâu cũng có bà con xa.  Tình đời chỉ xem lạnh ấm, mặt người chỉ nhìn theo cao thấp.  Nhân nghĩa mất theo cảnh nghèo, tình đời chỉ lệch về phía có tiền.  Ăn cả nghìn món không ai biết, áo xổng lam lũ bị người ta khinh ngay.  Thà lấp hang không đáy, không lấp nổi vạch ngang dưới mũi.  Ngựa bước chậm chạp chỉ vì gầy, người không phong lưu chỉ vì nghèo.
     

    C.

    Diễn ca:

    Lợi thì chung hưởng mới là,
    Chớ nên hưởng một mình ta sinh rầy.
    Mưu thì chỉ một người hay,
    Nhiều người biết đến, lộ ngay đấy mà!
    Con bất hiếu oán mẹ cha,
    Kẻ vay nợ, lại oán nhà cho vay.
    Tham đầy mồm, tất khó nhai,
    Nghèo mong lối xóm ai ai cũng giàu.
    (Phòng khi vay mượn cũng mau,
    Trả nợ cũng đỡ đi lâu nhọc người!)
    Nhà thưa tiếng khách nói cười,
    Ði ra cũng ít được người đón đưa.
    Có tiền mời khách say sưa,
    Còn hơn ghé ngựa đứng chờ cổng ai.
    Nghèo ở chợ chẳng ai hay,
    Giàu ở núi, tiếp suốt ngày bà con.
    Tình đời ấm lạnh tùy cơn,
    Mặt người ngước chốn cao hơn đấy mà!
    Khi nghèo, nhân nghĩa phôi pha,
    Nhiều tiền mới hút người ta kéo về.
    Khi ta đánh chén no nê,
    Chẳng ai hỏi lối đi về của ta.
    Nhưng khi ta xác xơ ra,
    Họ kéo cả nhà xúm lại khinh khi.
    Lấp hang không đáy khó chi,
    Nhưng chẳng dễ gì lấp miệng xôn xao.
    Ngựa gầy bước thấp bước cao,
    Người nghèo chẳng biết làm sao đỡ hèn!
     

    19A.

    Nguyên văn:

    济颠和尚警世云:看尽弥陀经,念彻大悲咒。种瓜还得瓜,种豆还得豆。经咒本慈悲,冤结如何救。照见本来心,做者还他受,自作还自受。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Hòa Thượng Tế Ðiên răn đời rằng:  Xem hết kinh Di Ðà, niệm sạch bài chú Ðại Bi thì trồng dưa vẫn được dưa, trồng đậu vẫn được đậu.  Kinh chú vốn từ bi, kết oan cứu sao được?  Soi thấy cái Tâm vốn có, kẻ nào làm thì nấy chịu, mình tự làm thì tự chịu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Kinh Di Ðà, chú Ðại Bi,
    Thấm nhuần, thấu triệt, ích gì mấy đâu?
    Một khi kết oán đã sâu,
    Dẫu kinh cùng chú nhiệm mầu cũng thua.
    Cha ông suy gẫm từ xưa,
    Trồng đậu chẳng hái được dưa đâu mà!
    Lẽ nhân quả chẳng buông tha,
    Mình làm mình chịu, ai mà cứu ai?
     

    20A.

    Nguyên văn:

    荀子云:公生明,偏生暗。作德生通,作伪生塞。诚信生神,诞夸生惑。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tuân Tử nói:  Công tâm sinh ra sáng suốt, thiên vị sinh ra tối tăm, làm theo đức thì trôi chảy, làm theo bịp bợm thì bế tắc.  Thật thà tin cậy sinh ra thần tình, dối trá khoác lác sinh ra ngờ vực.
     

    C.

    Diễn ca:

    Kẻ công tâm nói gì cũng đúng,
    Thiên vị thường lúng túng vụng về.
    Làm điều đức độ xuôi ghê,
    Làm điều dối gạt như đê chận dòng.
    Thần tình là kẻ thật lòng,
    Lừa người thì mới thổi phồng, tán dương.
     

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách Hán thư nói:  Kẻ uốn cong ống khói, dời củi đi thì không được coi là có ơn, kẻ cháy tóc bỏng trán lại làm thượng khách.
     

    C.

    Diễn ca:

    (Chuyển thể thơ ngụ ngôn)

     

    Hỏa hoạn ai cũng ngán,
    Cỏ kẻ khuyên đề phòng.
    Củi nên dời chỗ thoáng,
    Ống khói nên nắn cong.

    Lời khuyên, gác ngoài tai,
    "Kẻ khuyên" đành tiu nghỉu.
    Cả xóm hùa chê bai,
    "Kẻ khuyên" bấm bụng chịu.

    Quả nhiên xảy cháy nhà,
    Tài sản hao hơn nửa.
    "Kẻ khuyên" bận đi xa,
    Lối xóm xúm dập lửa.

    "Kẻ khuyên" đi xa về,
    Tìm lời sang an ủi.
    Thấy tiệc bày ê hề,
    Chủ nhân như muốn đuổi:

    - Quả là đồ xấu xa!
    Chỉ rủa nhà ta cháy!
    Giờ thì cháy thật rồi!
    Chắc có kẻ vui đấy!

    Lại quay sang khách mời:
    - Phước may nhờ các vị!
    Cụng ly một cái chơi!
    Hoan hô người tận tụy!

    "Kẻ khuyên" chua chát cười,
    Như học trò thi hỏng:
    "Mình tử tế mười mươi!
    Nhưng nói ra lại... ngọng."
     

    B.

    Dịch nghĩa:

    Ba tấc hơi còn, dùng cả nghìn việc, một sớm gặp chuyện vô thường (tức chết đi) thì muôn việc đều thôi.  Muôn vật chẳng trốn nổi số, muôn thứ điềm lành chẳng bằng không.  Trời chẳng sinh người không lộc, đất chẳng sinh cỏ không rễ.  Giàu to do trời, giàu nhỏ nhờ siêng năng.  Giàu lớn thì kiêu, nghèo lớn thì lo.  Lo thì làm trộm, kiêu thì tàn bạo.  Chớ nói nhà chưa nên, con làm nhà nên còn chưa sinh.  Chớ nói nhà chưa tan, con làm nhà tan còn chưa lớn.  Con làm nên nhà thì tiếc phân như vàng, con làm tan nhà, xài vàng như phân.
     

    C.

    Diễn ca:

    Còn hơi thở, còn xoay nghìn việc,
    Tắt hơi rồi, ai thiết chi chi.
    Số trời khi đã dứt đi,
    Muôn điều lành tốt đều thì bằng không.
    Trời sinh người cũng đồng hưởng lộc,
    Ðất sinh cỏ đủ gốc rễ thôi.
    Giàu to nhờ bởi số trời,
    Giàu nhỏ là bởi cả đời siêng năng.
    Kẻ giàu to, kiêu căng khinh bạc,
    Kẻ nghèo to, phờ phạc lo âu.
    Lo âu toan trộm nhà giàu,
    Kiêu nhà giàu bạo chẳng bao giờ vừa.
    Chớ nghĩ rằng nhà chưa phát đạt,
    Chẳng qua con kích phát chưa sinh.
    Ðừng cho nhà nọ vẫn yên,
    Chẳng qua đứa phá chờ phiên trưởng thành.
    Con nhà nên, quý phân như ngọc,
    Con nhà hư, coi ngọc như phân.
    Cơ trời biến chuyển xoay vần,
    Nên, hư, tốt, xấu dần dần lộ ra...
     

     

    Giáo Sư Ngô Văn Lại

    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Trung Chánh @ 00:41 17/07/2011
    Số lượt xem: 836
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến