THỜI TIẾT HÔM NAY

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    5 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Vietnamese Dictionary

    Về Trang chủ

    Gốc > Minh Tâm >

    TRỊ CHÍNH

    http://www.dharmasite.net/bdh65/3f.JPG

    XIII - Tuyển dịch thiên thứ mười ba:  TRỊ CHÍNH
     

    1A.

    Nguyên văn:

    唐太宗御制:上有麾之,中有乘之,下有附之,币帛衣之,仓廪食之,尔俸尔禄民膏民脂,下民易虐,上苍难欺。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Bài ngự chế của Ðường Thái Tông nói:  Trên có sai khiến cho, giữa có sai khiến theo, dưới có phụ lực cho, vải vóc mặc cho, kho đụn nuôi cho, bổng lộc ngươi hưởng là máu mỡ của dân đấy!  Với dân ở dưới thì dễ hà khắc, với cao xanh ở trên thì khó qua mặt.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ở trên chỉ đạo ngọn ngành,
    Ở giữa thừa hành thực hiện chủ trương.
    Ở dưới thì có dân thương,
    Cái ăn, cái mặc, mọi đường dân lo.
    Triều đình cấp bổng lộc cho,
    Chính là máu mỡ dân lo cho mình.
    Với dân ngươi nổi lôi đình,
    Tuy có bất bình, dân cố chịu thôi.
    Cao xanh tuy ở xa xôi,
    Kẻ định lừa trời, chưa chắc nổi đâu!
     

    2A.

    Nguyên văn:

    童蒙训曰:当官之法,唯有三事:曰清,曰慎,曰勤。知此三者则知所以持身矣。当官者必 以暴怒为戒。事有不可当详处之必无不当。若先暴怒只能自害,岂能害人。事君如事亲,事官长如事兄。与同僚如家人,待群吏如奴仆。爱百姓如妻子,处官事如家 事,然后能尽吾之心,如有毫末未至,皆吾心有所不尽也。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Sách dạy trẻ nói:  Phép tắc kẻ làm quan chỉ có ba việc:  thanh liêm, cẩn thận, siêng năng.  Kẻ giữ được ba phép tắc ấy là giữ nổi thân vậy.  Kẻ làm quan tất phải dè dặt sự giận dữ.  Việc có vẻ không thể đảm đương nhưng xử rõ ra tất không có gì là không thể đảm đương.  Nếu ngay từ trước đã giận dữ thì chỉ tự gây hại cho mình, há thể hại người?  Thờ vua như thờ cha mẹ, phụng sự quan trên như phụng sự anh, đối với đồng liêu như người nhà, đãi ngộ đám lại dịch như nô bộc, yêu trăm họ như vợ con, xử lý việc quan như việc nhà mới tỏ hết lòng ta.  Nếu có mảy may chưa đạt được đều là lòng ta còn chỗ chưa dốc hết.
     

    C.

    Diễn ca:

    Làm quan có ba điều răn:
    Thanh liêm, cẩn thận, siêng năng nằm lòng.
    Giữ ba điều ấy cho xong,
    Tức là ta thoát được vòng hiểm nguy.
    Không nên giận dữ điều gì,
    Ðã giận dữ thì nhất định mất khôn.
    Gặp việc khó, tưởng vô phương,
    Cân nhắc tỏ tường, giải quyết dễ thôi.
    Nếu ta đã trót giận rồi,
    Hại mình quá rõ, hại người dễ đâu!
    Làm quan muốn được bền lâu,
    Thờ vua như đáp ơn sâu sinh thành.
    Với quan trên, kính như anh,
    Với đồng liêu, tựa gia đình của ta.
    Với bao lại dịch, sai nha,
    Coi như tôi tớ giúp ta bao điều.
    Coi dân con quý, vợ yêu,
    Việc quan coi tựa bao nhiêu việc nhà.
    Hết lòng hết dạ của ta,
    Một mảy sơ suất cũng là chưa xong.
     

    3A.

    Nguyên văn:

    居官者凡异色人不宜与之相接。巫祝尼媪之类尤宜罢绝,要以清心省事为本。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Ở địa vị làm quan thì không nên tiếp xúc với những người khác màu sắc.  Với loại đồng bóng, ni cô càng nên bãi bỏ cắt đứt, cốt lấy sự trong sáng cho tâm hồn và bớt việc làm gốc.
     

    C.

    Diễn ca:

    Làm quan, dành sức lo dân,
    Những việc không cần, chớ có tự chuyên.
    Chuyện đồng bóng, chuyện hóa duyên,
    Ðừng để gây phiền trách nhiệm chuyên môn,
    Giữ cho trong sáng tâm hồn,
    Chớ nên mua việc, làm mòn sức dân.
     

    4A.

    Nguyên văn:

    刘安礼问临民。明道先生曰:使民各得输其情。问御史?曰:正己以格物。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Lưu An Lễ hỏi cách trị dân Thầy Minh Ðạo (*) nói:  Khiến cho dân ai nấy bày tỏ hết tình của họ.  Hỏi đến việc quản lý cấp thừa hành.  Ngài đáp:  Giữ cho mình ngay thẳng để thấu hiểu họ.
     

    C.

    Diễn ca:

    Lưu An Lễ hỏi ngài Minh Ðạo:
    Ðối với dân, dạy bảo ra sao?
    Ðáp rằng:  Lòng họ thế nào,
    Tỏ ra thế ấy, xiết bao an toàn.
    Lại hỏi việc điều hành cấp dưới,
    Phải thế nào thì mới yên dân?
    Ðáp rằng:  Giữ tốt bản thân,
    Làm gương cho họ thì dân thỏa tình.
     

    D.

    Chú thích:

    Minh Ðạo:  tên tự của Trình Hạo (cũng đọc là Hiệu, 1032 - 1185).  Ông cùng em ruột là Y Xuyên tiên sinh Trình Di (1033 - 1107) và Chu Tử (tức Chu Hi, 1130 - 1200) là 3 cột trụ của trường phái Tính Lý học của nho gia, có công phục hồi Nho Giáo (vốn bị lép vế trước Phật và Lão dưới thời Ðường).  Cụm từ Khổng Mạnh Trình Chu dùng chỉ Nho học là gồm các vị ấy và họ cũng được gọi là Tống nho (nhà nho đời Tống).
     

    5A.

    Nguyên văn:

    子曰:不教而杀谓之虐。不戒视成谓之暴。慢令致期谓之贼。犹之与人也,出纳之吝谓之有司。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Khổng Tử nói:  (Quan trên) không dạy mà giết (dân) thì gọi là ngang ngược.  Không răn bảo chỉ chờ làm cho xong là tàn bạo.  (Không thúc giục) để nhờn lệnh đến kỳ gọi là giặc.  Nghi ngại cho người, chi nhập nhầm lẫn keo kiệt gọi là (thói) quan liêu.
     

    C.

    Diễn ca:

    Không dạy dân biết đúng sai,
    Cứ quấy thì giết là loài sài lang.
    Không răn đe thật đàng hoàng,
    Cứ đòi được việc là tàn bạo thôi.
    Hạn kỳ kết thúc đến rồi,
    Làm ngơ không giục, chờ hồi thẳng tay.
    Thế là kẻ địch chẳng sai,
    Chăm chăm mong được hại ai đến cùng.
    Còn như nghi ngại lung tung,
    Thu chi riết róng là phường quan liêu.
     

    6A.

    Nguyên văn:

    子张问仁於孔子。孔子曰:恭,宽,信,敏,惠。恭则不侮,宽则得众,信则人任焉,敏则有功,惠则足以使人。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Tử Trương hỏi Khổng Tử về đạo Nhân, Khổng Tử nói:  Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ.  Cung kính thì không bị dân nhờn, khoan hồng thì được lòng dân, tỏ lòng tin thì dân tín nhiệm, nhanh nhẹn thì có công, ban ơn huệ thì đủ để sai khiến người ta.
     

    C.

    Diễn ca:

    Tử Trương vấn nạn (*) tôn sư:
    Muốn có Nhân phải làm như thế nào?
    Rằng:  theo năm chữ như sau:
    Cung, Khoan, Tín, Mẫn là đầu đức Nhân.
    Rồi thêm chữ Huệ cho dân,
    Vận dụng dần dần, đức độ sẽ thông.
    Giữ cung kính cho bản thân,
    Trịnh trọng mọi việc thì dân chẳng nhờn.
    Giữ cho lòng dạ khoan hồng,
    Thì dân cũng được thỏa lòng ước ao.
    Với dân, tỏ ý tin nhau,
    Thì dân tín nhiệm, chẳng câu nghi ngờ.
    Giữ cho nhanh nhẹn, tùy cơ,
    Ðã làm, phải thấy sờ sờ công lao.
    Tận vùng sâu, tận rẻo cao,
    Ðều hưởng ơn huệ, bảo sao chẳng thuần?
     

    D.

    Chú thích:

    Vấn nạn:  hỏi "chất lượng cao", gây khó khăn cho người đáp, đòi họ phải động não, phải lập luận lôgich (không ngụ ý là "vấn đề nguy hiểm có khả năng gây tai nạn"  như cách hiểu ngày nay).
     

    7A.

    Nguyên văn:

    子曰:君子惠而不费,劳而不怨,欲而不贪,泰而不骄,威而不猛。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Khổng Tử nói:  Người quân tử làm ơn nhưng không tốn kém, làm nhọc người ta nhưng không gây oán, ham muốn nhưng không tham lam, thư thái nhưng không kiêu căng, oai vệ nhưng không hung dữ.
     

    C.

    Diễn ca:

    Làm ơn, mình chẳng tốn nhiều,
    Gây nhọc, thiên hạ vẫn yêu mến mình.
    Không tham nên chẳng ai khinh,
    Thế nhưng quyết tình ham muốn gắt gao.
    Thư thái mà chẳng làm cao,
    Oai vệ nhưng chả khi nào hung hăng.
    Thấm nhuần như thế thành quen,
    Mới là quân tử, khó khăn chẳng sờn.
     

    8A.

    Nguyên văn:

    孟子曰:责难於君谓之恭,陈善闭邪谓之敬。吾君不能谓之贼。

    B.

    Dịch nghĩa:

    Mạnh Tử nói: Đòi vua làm điều khó gọi là kính trọng vua, trình bày điều thiện, chận đứng điều trái (của vua) gọi là tôn kính vua.  Vua không hoàn thành chức năng là làm hại vua.
     

    C.

    Diễn ca:

    Ðòi hỏi vua phải anh minh,
    Ấy mới thực tình kính trọng nhà vua.
    Vua nhầm, quyết chẳng a dua,
    Gợi vua làm thiện mới thừa nể nang.
    Còn như vua thiếu khả năng,
    Dửng dưng mặc kệ, cầm bằng hại vua.
     

     

     

     

     

     

    Giáo Sư Ngô Văn Lại
    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Trung Chánh @ 23:02 25/07/2011
    Số lượt xem: 865
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến