THỜI TIẾT HÔM NAY

Hà Nội
TP. Hồ Chí Minh
Kiên Giang

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Tra Từ Điển Online 

                  

     

    CTy HPEC

    Về Trang chủ

    Gốc > Bài Viết > Hồ Chí Minh >

    Văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh

           

    1. Khoan dung có nghĩa là lấy lòng tốt mà dung thứ, mà đối xử. Con người bình thường cũng có lòng khoan dung nhưng để đạt tới văn hoá khoan dung thì còn là cả một hành trình mà không phải ai cũng dễ dàng vươn tới. Điều đó chỉ có thể có ở những con người có nhân cách cao thượng, vốn sống, vốn hiểu biết phong phú như Hồ Chí Minh, bởi lẽ khi nói đến văn hoá khoan dung là nói đến một tầm cao về văn hoá, nếu như không có một năng lực vượt trội thì không thể vươn tới được.

    Các dân tộc trên thế giới đều có cách ứng xử của riêng mình, song hiếm có dân tộc nào lại có lòng nhân ái, bao dung như dân tộc Việt Nam, khoan dung ngay đối với cả kẻ thù! Điều đó được chứng minh qua lịch sử có bề dày hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc ta. Dân tộc Việt Nam, do vị thế địa lí cũng như quy mô của mình, đã hình thành nên lối ứng xử khoan dung, nhân hậu. Đó là lối ứng xử thông minh, đậm chất nhân văn.

    Việt Nam ta nằm ở ngã tư đường giao lưu văn hoá thế giới, có nhiều tôn giáo, triết thuyết được du nhập vào nước ta từ rất sớm. Người Việt Nam tiếp nhận những nét đặc sắc của các tôn giáo, triết thuyết đó. Tất cả những điểm mạnh đó sau này đều được Hồ Chí Minh đánh giá một cách công bình. Điều tuyệt vời là ở Việt Nam không có chiến tranh, hay xung đột tôn giáo một cách cực đoan như ở Phương Tây. Người Việt chọn lấy, chắt lọc lấy để ứng xử, để hành sự, để rồi tạo nên cái bản ngã độc đáo cho riêng mình.

    Trong quan hệ với láng giềng, nhân dân ta chọn lấy cách ứng xử hoà bình, thân thiện, hữu nghị, thân ái. Ngay cả đối với kẻ thù cũng mở đức khoan hoà, độ lượng. Chiến đấu là vì mục tiêu độc lập, tự do, hoà bình chứ không hiếu sát. Vì thế, khi thắng trận ta vẫn thực hiện chính sách ngoại giao thân thiện, chủ động đặt quan hệ ngoại giao với Trung Hoa trong các triều đại. Trong thời trung đại, tinh thần đó thể hiện kết tinh ở Nguyễn Trãi khi quân sư cho Lê lợi không giết kẻ bại trận mà cấp cho: Ngựa, thuyền bè, lương thực để về nước; hành sự theo lối “mưu phạt công tâm” (Bình Ngô đại cáo) không phải mang tiếng xấu đến muôn đời. Đó phải chăng là đặc sắc cửa tư duy Việt Nam: Nhu cương kết hợp, mềm dẻo và kiên định, dung hoà để vượt lên, khoan dung, đúng mực trong hành xử. Có thể nói mỗi người Việt Nam đều mang trong mình tính Phật, tâm Phật.

    Sinh ra trong lòng dân tộc, Hồ Chí Minh được tiếp nhận tất cả những tinh hoa đó. Dù rất căm thù giặc, cái ác, cái xấu, nhưng Người luôn bình tĩnh chọn lối hành xử khoan dung, chứ không cực đoan một chiều. Đó là đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh, trong văn hoá khoan dung Hồ Chí Minh. Văn hoá đó được thể hiện rất rõ trên các mối quan hệ với các dân tộc, với các tôn giáo, với con người và đối với các cộng đồng và các nền văn hoá khác nhau.

    Đối với con người, không phân biệt màu da, chủng tộc, Hồ Chí Minh đều có tình yêu thương, đồng cảm. Người nói “Theo tinh thần bốn bể đều là anh em, tôi yêu mến thanh niên Pháp cũng như yêu mến thanh niên Việt Nam. Đối với tôi, sinh mệnh của một người Pháp hay sinh mệnh của một người Việt Nam đều đáng quý như nhau(1). Người luôn chủ trương lấy tình yêu thương mà cảm hoá, đối xử với con người, với nhân dân của mình. Người căn dặn: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho phần thiện trong mỗi con người nẩy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời(2)

    Đối với các tôn giáo, phương châm của Người là tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết tôn giáo, song hướng tới mục tiêu là vì sự nghiệp chung: Đạo pháp - dân tộc- Chủ nghĩa xã hội, “phần xác thong dong, phần hồn hạnh phúc”, sống tốt đời, đẹp đạo “Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng là để giữ gìn quyền tôn giáo tự do(3).

    Đối với các dân tộc trong nước, Người nêu lên nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, quy về trong vòng đồng tâm là con Lạc - cháu Hồng “Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp lại nhau nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này hay thế khác, đều dòng dõi tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ….Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải lấy tinh thần thân ái mà cảm hoá họ(4).

    Đối với kẻ thù, nhân nhượng, đại độ lúc có thể được, nhưng kiên quyết lúc cần; luôn với thiện chí mở rộng cánh cửa đón lấy cơ hội hoà bình nhưng sẵn sàng thổi tiếng kèn xung trận khi tình thế đã thay đổi. Trong một bức thư Người viết “Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Song khi phải hi sinh giữ chủ quyền của Tổ quốc cần hi sinh thì phải kiên quyết hi sinh(5)

    Đối với nền văn hoá các dân tộc Đông - Tây, Người coi trọng sự giao lưu, học hỏi, đối thoại cởi mở và sẵn sàng tiếp nhận tinh hoa văn hoá khác nhau. Người nói: Mác, Khổng tử, Giê su, Tôn giật Tiên chẳng có những điểm chung đó hay sao, tôi nguyện làm học trò nhỏ của các vị ấy!

    Văn hoá khoan dung của Người, có thể nói là sự kết lọc nhân cách cao đẹp của các vị sáng lập các tôn giáo, triết thuyết trong truyền thuyết và lịch sử, của các nhà cách mạng tiền bối một cách nhuần nhị và sâu sắc. Có lẽ, chính văn hoá khoan dung của Người, đã làm cho các mâu thuẫn trở nên nhẹ nhàng hơn. Người dường như không bị chi phối bởi những khó khăn, luôn thể hiện phong thái bình tĩnh, ung dung, tự tại. Chúng ta có cảm nhận rằng, dường như Hồ Chí Minh không vội vàng để mất đi cơ hội thể hiện sức mạnh văn hoá này.

    Yếu tố nào đã tạo nên đặc sắc của văn hoá khoan dung Hồ Chí Minh? Phải khẳng định rằng, Hồ Chí Minh tạo nên văn hoá khoan dung của mình cốt lõi là từ truyền thống dân tộc song lại trên cơ sở dung hoà với những tinh tuý trong văn hoá Đông – Tây. Đó là tinh thần tha nhân, triết lí “Lục hoà” của đạo Phật, “Khiêm ái” của Mặc tử, thế giới đại đồng của Nho giáo, lòng nhân đạo cao cả của đức Giê su, đó là tinh thần “tự do, bình đẳng, bác ái” của Chủ nghĩa Khai sáng, phép biện chứng khoa học của chủ nghĩa Mác, nền văn hoá ưu việt của giai cấp vô sản. Trong đó, phép biện chứng duy vật là hạt nhân có ý nghĩa xâu chuỗi, liên kết. Người tiếp thu, cô đúc để hoàn thiện nâng cao, rồi viễn vượt lên tất thảy những cái đó, chứ không dập khuôn, máy móc. Vì thế văn hoá khoan dung của Người đã đạt đến tầm độ cao của Đức khoan dung dân tộc, vừa kết tinh được những tinh anh của nhân loại, tiêu biểu cho lối ứng xử của bậc thiên tài có tầm văn hoá sâu rộng vô cùng. Có thể thấy rằng, chính văn hoá đó đã giúp Người tập hợp lực lượng, ngay cả việc tranh thủ sự ủng hộ của kẻ thù, tận dụng sức mạnh tinh thần vì sự nghiệp chung, mục tiêu chung. Từ văn hoá khoan dung, Hồ Chí Minh đã đạt tới những đỉnh cao thắng lợi trong cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú, sôi nổi và sâu sắc của mình.

    2. Ngày ngay, chúng ta kế thừa và học hỏi được gì từ văn hoá đó. Lẽ dĩ nhiên, nói đến văn hoá là nói đến giá trị và giá trị chỉ có ý nghĩa trường tồn khi nó không ngừng được phát huy. Chúng ta phải không ngừng học hỏi và vận dụng văn hoá Hồ Chí Minh trong thực tế cuộc sống hoạt động của mỗi người. Trong bối cảnh toàn cầu hoá (Globalization) được xác định là nhiều cơ hội nhưng cũng đầy thách thức và cả những cám dỗ. Cần học hỏi và vận dụng ở Hồ Chí Minh về tư duy khoa học biện chứng, lối ứng xử chấp nhận - bao dung- thanh lọc...để tiếp nhận những cái hay, cái đẹp của quá trình toàn cầu hoá, nhưng mặt khác, kiên quyết loại trừ tác động xấu của nó. Việt Nam “Chủ động hội nhập”, “sẵn sàng là bạn”, là “đối tác tin cậy” nhưng luôn giữ gìn bản sắc tinh hoa dân tộc. Trong cuộc sống, đó sẽ là lối ứng xử chân thành, biết lắng nghe, đối thoại và đồng cảm, “sống với nhau có nghĩa có tình”.

    Tìm hiểu văn hoá khoan dung Hồ Chí Minh, ta tìm thấy trong đó lấp lánh cả một chiều sâu và tầm cao văn hoá, tinh hoa dân tộc và nhân loại hoà quyện trong nhân cách vĩ đại của một Con người. Chúng ta tin tưởng, văn hoá khoan dung Hồ Chí Minh sẽ là nền “văn hoá của tương lai” (như nhận định nhà báo Ôxíp Manđenxtam năm 1924), nhất định văn hoá đó sẽ toả sáng rực rỡ đồng hành cùng tương lai dân tộc ta./.

    Chú thích:

    (1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, t.4, tr.303.
    (2) sđd, t.12, tr.558).
    (3) sđd, CTQG, H, 2002, t.4, tr.490.
    (4) sđd, CTQG, H, 2002, t.4, tr.246.
    (5) sđd, H, 2002, t.4, tr.458.
    (6) sđd, t.1, tr.478, 479.

    Phạm Xuân Hoàng
    Tạp chí Văn Hóa Hà Tĩnh, số 96, 7.2006

       
    09:31' PM - Thứ hai, 24/01/2011
         

    Nhắn tin cho tác giả
    Vũ Hồng Anh @ 00:38 29/01/2011
    Số lượt xem: 879
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Chào thầy Chánh! Lâu ngày ghé thăm nhà thầy, chúc thầy và GĐ luôn mạnh khỏe!

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     
    Gửi ý kiến