THỜI TIẾT HÔM NAY

Hà Nội
TP. Hồ Chí Minh
Kiên Giang

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Tra Từ Điển Online 

                  

     

    CTy HPEC

    Về Trang chủ

    Gốc > Bài Viết > Thành tích - Kỳ tích >

    Lần đầu tìm thấy mộc bản khắc 'Chiếu dời đô'

    Cán bộ và nhân viên Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (Đà Lạt) lần đầu tiên tìm thấy tấm mộc bản khắc nguyên văn 'Chiếu dời đô' của vua Lý Thái Tổ.

    Thạc sĩ Phạm Thị Huệ, Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV (TTLTQG IV) là người có nhiều công trình nghiên cứu về mộc bản triều Nguyễn và đóng góp nhiều công sức để mộc bản triều Nguyễn được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới và đưa vào chương trình “Ký ức thế giới” vào ngày 30/7/2009.
    Gần 30 năm lấy mộc bản làm bạn tri kỷ, đã từng tìm tòi, nghiên cứu, dịch thuật, sắp đặt các đề mục cho kho tàng mộc bản khổng lồ với 34.618 tấm hiện đang lưu giữ tại TTLTQG IV, nhưng mãi gần đây, bà Huệ và các cộng sự mới tìm thấy mộc bản khắc Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ.

    Mộc bản khắc "Chiếu dời đô"

    Theo thạc sĩ Phạm Thị Huệ, từ trước đến nay có rất nhiều công trình đề cập đến Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, nhưng đó chỉ là những bản sao, bản chụp. Bản Chiếu dời đô mới tìm thấy nằm trong bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư (kỷ Lý Thái Tổ - quyển 2 - mặt khắc 2), thuộc khối tài liệu mộc bản triều Nguyễn - Di sản tư liệu thế giới, đang được bảo quản tại TTLTQG IV, với ký hiệu H 31/8.
    Đây là bản khắc chữ Hán ngược, kích thước 41x21,2 cm, khuôn khổ in 29,5x20 cm. Toàn bộ Chiếu dời đô có 214 chữ, không kể phần chú thích. Thạc sĩ Huệ nhận xét, bài chiếu được bố cục rất chặt chẽ, lời văn khúc chiết, đầy sức thuyết phục.
    Mở đầu, nhà vua đưa ra một vài ví dụ xưa, ca ngợi và chứng minh việc dời đô của các nhà vua Trung Quốc, đã đem lại sự phồn thịnh cho đất nước: “Xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh 5 lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương 3 lần dời đô; đâu phải các vua thời Tam đại đều theo ý riêng của mình mà tự tiện dời đô xằng bậy”.
    Lý Công Uẩn nói rõ mục đích và lợi ích của việc dời đô: “Mưu nghiệp lớn, chọn ở nơi chính giữa, dựng kế cho con cháu muôn đời; trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện lợi thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”.
    Sau khi nghiên cứu từ cổ tới kim, xem xét thực tế vị trí thành Đại La, nhà vua thấy: “Thành Đại La... ở giữa khu vực đất trời, được thế rồng chầu - hổ phục, chính giữa nam  - bắc - đông - tây, tiện nghi núi sau - sông trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa; dân cư không phải chịu khổ vì thấp trũng, tối tăm; muôn vật hết sức tốt tươi phồn thịnh”.
    Lý Công Uẩn khẳng định vị trí quan trọng của thành Đại La đối với việc xây dựng và phát triển đất nước: “Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Cuối cùng nhà vua quyết định: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở”. Dựa trên bản khắc vừa tìm thấy, thạc sĩ Phạm Thị Huệ cho rằng phải dịch: “... được thế rồng chầu - hổ phục... tiện nghi núi sau - sông trước” mới thoát nghĩa, mới diễn đạt đúng được ý của nhà vua về vị trí của thành Đại La, bởi bấy lâu nhiều sách sử đều ghi “... được thế rồng cuộn hổ ngồi... tiện nghi núi sông sau trước”.

    Mộc bản khắc "Chiếu dời đô" đang được bảo quản ở TTLTQG IV.

    Theo thạc sĩ Phạm Thị Huệ, rất có thể mộc bản Đại Việt sử ký toàn thư, trong đó khắcChiếu dời đô của Lý Công Uẩn đang bảo quản tại TTLTQG IV là bản khắc từ thời Lê (1697). Cũng có giả thiết cho rằngĐại Việt sử ký toàn thư được khắc lại vào thời Nguyễn (khoảng từ 1802-1807).
    Nhưng dù là bản khắc từ thời Lê hay thời Nguyễn thì Chiếu dời đô cũng là di sản rất quý, vì đây là bản khắc cổ nhất (của văn bản này) còn lại tính đến thời điểm hiện nay.
    Công Uẩn vốn họ Nguyễn, người Cổ Pháp (Bắc Ninh), mẹ họ Phạm. Ông sinh ngày 17 tháng 2, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 (974).
    Năm lên 3 tuổi, mẹ phải nhờ nhà sư Lý Khánh Văn nuôi hộ, cho nên sau này ông lấy họ Lý của cha nuôi – Lý Công Uẩn. Lúc sinh thời, thiền sư Vạn Hạnh đã nhận xét về Lý Công Uẩn: “Đây là người phi thường, sau này lớn lên tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ”.
    Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi vua Lê Trung Tông (Lê Long Việt) bị Lê Ngọa Triều (Lê Long Đĩnh) giết, quần thần đều chạy trốn, duy chỉ có một mình Lý Công Uẩn ở lại ôm vua mà khóc. Lê Ngọa Triều nể phục khen là trung, phong cho làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Khi Lê Ngọa Triều chết, Lý Công Uẩn được các quan trong triều đưa lên làm vua. Khi lên ngôi, ông xuống chiếu đại xá thiên hạ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Năm 1010 là năm Thuận Thiên thứ nhất.
    Là người thông kinh sách, mưu lược, nhìn xa trông rộng, Lý Công Uẩn thấy thành Hoa Lư chật hẹp, giao thông gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế (nông, công, thương...), bởi vậy, ông quyết định dời đô ra thành Đại La và chính tay nhà vua viết Chiếu dời đô.

    Theo TNO


    Nhắn tin cho tác giả
    Vũ Hồng Anh @ 05:44 14/09/2010
    Số lượt xem: 321
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Chúc thầy một ngày làm việc mới vui vẻCười!
     
    Gửi ý kiến