THỜI TIẾT HÔM NAY

Hà Nội
TP. Hồ Chí Minh
Kiên Giang

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Tra Từ Điển Online 

                  

     

    CTy HPEC

    Về Trang chủ

    Gốc > Văn Học - Nghệ thuật >

    HỒ DZẾNH một tiếng thơ thuần khiết


    http://vnca.cand.com.vn/Uploaded_VNCA/12_nhatho51.jpgChúng ta thường nói: Mọi sự so sánh đều khập khiễng, cũng như từng nói: Mỗi tài năng văn chương đều có những đóng góp riêng, không ai thay thế được ai. Vậy nhưng trong thực tế, chúng ta vẫn cứ loay hoay tìm cách cân, đong, đo, đếm…, để rồi lọ mọ sắp xếp ngôi vị cho từng tác giả. Thậm chí trong nhiều trường hợp, còn muốn xác định ai là người giữ vị trí số 1. So với một số nhà thơ nổi danh của phong trào Thơ Mới, như Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên…, nếu áp dụng cách cân đo thông thường, ta sẽ thấy Hồ Dzếnh cũng chỉ thuộc hạng “thấp bé nhẹ cân”. Ở thơ ông, ta không tìm thấy những bài đồ sộ về kết cấu, rực rỡ về ý tưởng, hùng tráng về giai điệu. Nhà phê bình văn học Trần Hữu Tá - trong một bài viết in ra năm 1988 - thậm chí còn ngờ rằng, ngoại trừ bài “Chiều”, còn thì thơ Hồ Dzếnh “khó chịu đựng được lâu hơn nữa thử thách của thời gian”.



    Một tiếng thơ thuần khiết

    PHẠM KHẢI

    Thật ra, ngay từ khi mới ra đời, thơ Hồ Dzếnh gần như đã tách mình khỏi cuộc sống ồn ào pha tạp. Nó mảnh mai như đọt lá non, như tia nắng nõn. Nhiều lúc ngỡ như nó ẩn khuất đâu đó, ngày càng vắng bóng. Song không phải vì thế mà nó “tắt” hẳn. Bất thần một phút giây nào đó, nó bừng thức, làm ấm lòng ta, như thoáng chút xa xăm từ đâu chính lòng mình ngày niên thiếu hiện về, rồi lại bay đi, để lại chút dư vị bâng khuâng hoài nhớ.

    Thơ Hồ Dzếnh hiếm bài toàn bích, nhưng có những câu rất tinh tế, khơi gợi. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh - trong “Thi nhân Việt Nam” từng tấm tắc khen hai câu “Ô hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi: thu mênh mông” của Bích Khê là “những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”. Đọc hai câu: “Khi vàng đứng bóng im trưa/ Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường” trong bài thơ “Phố huyện” của Hồ Dzếnh, tôi cũng cho rằng, đây thuộc số những câu thơ hay bậc nhất trong thơ Việt Nam. Chỉ với 14 chữ, với cách đảo ngữ tài tình, tác giả đã thể hiện được cái “thần” của một buổi trưa mênh mang sắc nắng với cái cô quạnh, đìu hiu của một con phố nơi tỉnh lẻ. Hai câu thơ như một điểm nhấn rất ấn tượng trong một bài thơ có cách dẫn chuyện còn nôm na, sống sít…

    Cách đây hơn hai mươi năm, trên Báo Người Hà Nội số Tết Kỷ Tị (15-1-1989), tôi từng đưa ra nhận xét về thơ Hồ Dzếnh: “Không biết có phải vì hai câu: Khi vàng đứng bóng im trưa/ Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường rất ấn tượng trong bài thơ “Phố huyện” mà lúc nào tôi cũng cảm thấy dằng dặc trước mắt cái sắc vàng của một buổi trưa cao điểm trong hồn thơ Hồ Dzếnh? Không, tuy viết là chiều đấy mà trưa nọ nắng kia vẫn là có thật, bởi vì hồn thơ Hồ Dzếnh luôn mở ra với nắng gió, với màu cây sắc cỏ, với thiên nhiên. Ông không chịu được bức tranh thơ u tối, hoặc ngồn ngộn những ý tưởng. Thơ ông thường thông thoáng”. Quả thật, đọc Hồ Dzếnh, tôi luôn ám ảnh với những không gian xa vắng, mang đậm khí vị …nắng trưa, bất kể ông có nhắc tới hai chữ này hay không. Cái tài của Hồ Dzếnh là chỉ với đôi ba hình ảnh và âm hưởng quen thuộc, ông vẫn phả được vào  cảnh trí cái hồn thơ mang đậm sắc nắng của mình. Đó là: “Tôi bước vào đời tự ngõ xưa/ Nơi hiu gió sớm, xế buồn trưa/ Thuyền tre nằm ngủ trong mơ trúc/ Buông lặng chiều mi lớp bóng vừa...”(bài “Trong nắng trưa”); là: “Trời đẹp như trời mới tráng gương/ Chim ca, tiếng sáng rộn ven tường/ Có ai bên cửa ngồi hong tóc/ Cho chảy lan thành một suối hương “(bài “Xuân ý”); là: “Đời lành, nắng nhạt mưa thưa/ Sầu hôm nối sáng, buồn trưa tiếp chiều” (bài “Quê hương”)…

    Thời gian Hồ Dzếnh cho xuất bản tập thơ “Quê ngoại” (năm 1943), không mấy thi nhân Việt Nam biết đến văn hóa Nga, càng ít người biết đến tranh phong cảnh của Isaac Levitan. Vậy mà không hiểu sao, đọc bài thơ “Mầu thu năm ngoái” của Hồ Dzếnh, tôi luôn liên tưởng tới bức tranh tuyệt tác “Mùa thu vàng” của Levitan, đặc biệt là mấy câu kết:
    Tôi đi lại mãi chốn này
    Sầu yêu nối nhịp với ngày tôi sang
    Dưới chân mỗi lối thu vàng
    Tình xa lăm lắm tôi càng muốn yêu.

    Không rõ trước Hồ Dzếnh, trong thơ Việt Nam, đã có thi nhân nào dùng mấy chữ “thu vàng”?

    Hồ Dzếnh là người có tài khi chỉ với một đôi hình ảnh quen thuộc, vài ba thanh điệu quen thuộc pha trộn cùng nhau, ông đã tạo nên những bức phác họa rất có hồn. Nhiều khi, nghĩa chữ không thật rõ nhưng vẫn gợi, vẫn ám ảnh (nói như thơ Xuân Diệu là “Không cần nghĩa chữ vẫn nghe hay”). Như đọc những câu: “Đâu hình tàu chậm quên ga/ Bâng khuâng gió nhớ về qua lá đầy”, nếu chẻ hoe ra thì chưa hẳn đã rõ nghĩa, song âm hưởng của nó lại gợi mở nhiều điều sâu xa, khó nói. Lại có những câu, tác giả chỉ xếp các hình ảnh cạnh nhau, không cần diễn giải nhiều, như:
    Tô Châu lớp lớp phù kiều
    Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam
    Rạc rời vó ngựa quá quan
    Cờ treo ý cũ, mây dàn mộng xưa

    (bài “Đợi thơ”)
    mà khơi gợi trong lòng độc giả bao tưởng tượng về bức tranh lịch sử mấy ngàn năm bi tráng của đất nước Trung Hoa vĩ đại - quê nội của tác giả. Kể từ cụ Nguyễn Du với “Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây”, thơ Việt Nam ít có những câu có sự chuyển cảnh nhanh (Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam) và gợi nhiều biến thiên thời cuộc trong một tiết diện chữ ít ỏi như vậy.

    Viết nhiều và có không ít câu thơ hay về nắng, về trưa, song nếu điểm tên bài thơ được người đời nhắc tới nhiều nhất của Hồ Dzếnh - thì nghịch lý thay - đó lại là bài… “Chiều”. Có thể một phần là do bài thơ từng được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước chuyển thể thành một ca khúc rất quyến rũ. Song sòng phẳng mà nói, trong phong trào Thơ Mới, đây là bài thơ có cấu trúc giai điệu độc đáo, có những liên tưởng đẹp, giàu sáng tạo:
     Trên đường về nhớ đầy
    Chiều chậm đưa chân ngày
    Tiếng buồn vang trong mây

    Chim rừng quên cất cánh
    Gió say tình ngây ngây
    Có phải sầu vạn cổ
    Chất trong hồn chiều nay?

    Tôi là người lữ khách
    Mầu chiều khó làm khuây
    Ngỡ lòng mình là rừng
    Ngỡ hồn mình là mây
    Nhớ nhà châm điếu thuốc
    Khói huyền bay lên cây…


    Trong 13 câu thơ, có tới 9 câu có chữ thứ hai mang dấu huyền (trên đường; Tiếng buồn; chim rừng; tôi là; mầu chiều; ngỡ lòng; ngỡ hồn; nhớ nhà; khói huyền) rất tạo nhạc tính và hợp với bối cảnh, tâm trạng mà tác giả đề cập. Cái ý “Chiều chậm đưa chân ngày” là một ý xuất thần, trước Hồ Dzếnh chưa ai viết (mấy chữ ch trong câu thơ còn kết hợp với ý thơ góp phần tạo nên sự chập chờn của giây phút giao ca giữa ánh ngày và bóng tối). Theo lời kể của nhà thơ Võ Văn Trực thì bài thơ được tác giả khởi nguồn nhân một lần ông theo người anh trai đi làm hỏa xa ở Lạng Sơn. Từ núi rừng biên giới nhìn về quê cha đất tổ, trong ông cồn lên bao nỗi niềm nhung nhớ. Ông ghi vội mạch cảm xúc đang tuôn trào lên một vỏ bao thuốc lá. Sau này, trở lại nhà, đem áo giặt, ông chợt nhặt được vỏ bao thuốc có những dòng chữ nguệch ngoạc. Ông đọc lại, nhận thấy bài thơ đã hoàn chỉnh. Ông gửi in bài thơ trên báo Người mới (bấy giờ là vào năm 1942) với tên gọi ban đầu là “Mầu cây trong khói” và câu kết là “Khói xanh bay lên cây” (sở dĩ sau này bài thơ có nhan đề “Chiều” và câu kết “Khói huyền bay lên cây” là do Hồ Dzếnh… sửa lại theo những gì ghi trên bản nhạc của Dương Thiệu Tước. Đây quả là hiện tượng hiếm gặp trong lịch sử các bài thơ được phổ nhạc ở Việt Nam).

    Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, do hoàn cảnh chiến tranh cũng như do cách nhìn nhận lúc bấy giờ, các tác phẩm thời tiền chiến của Hồ Dzếnh cùng một số tác giả khác ít có điều kiện được in lại. Nhiều bạn đọc chỉ được biết đến bài “Chiều” của ông qua điệu nhạc buồn bã như những hồi chuông chiều ngân vang trên nóc giáo đường mà nhạc sĩ Dương Thiệu Tước đã phổ một cách tài tình vào năm 1953, bởi vậy, có không ít người đã “thẩm thấu” tinh thần của bài thơ qua những gì mà giai điệu của bài hát gợi lên. Từ đó, họ cho rằng cảm hứng xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ cố quốc đến đau đớn, khắc khoải của tác giả. Và tất cả chỉ có vậy. Nhà thơ Vũ Quần Phương, trong một bài bình thậm chí còn nhận thấy “không gian đầy ắp buồn, nhớ, sầu… Nỗi buồn bao trùm tất cả. Tất cả như tê dại đi, như bất động trong nỗi buồn mờ xám, mông lung không đường nét”. Tôi cho rằng, sự thể không hẳn vậy. Bởi nếu “Nỗi buồn bao trùm tất cả” thì làm sao lại có hai câu “Chim rừng quên cất cánh/ Gió say tình ngây ngây” chêm vào giữa đoạn thơ? Theo tôi, tâm trạng của Hồ Dzếnh trong bài thơ là một tâm trạng “ngổn ngang trăm mối bên lòng”, nó dùng dằng giữa hai trạng thái: Đi và ở. Bởi cả hai mảnh đất Việt - Trung đều thiêng liêng đối với ông. Nhà thơ Du Tử Lê từng nhận xét: “Một người mang trong mình hai dòng máu Tàu và Việt. Cái quê ngoại tuy có nồng nàn trong tâm hồn Hồ Dzếnh nhưng cái quê ngoại kia vẫn chẳng thể bù đắp được cho cái hình bóng mờ mịt của quê nội”. Có hiểu như vậy mới thấy được cái tâm trạng giằng xé, đan xen của ông giữa một chiều buồn nơi rừng cây biên giới, mới hiểu được tại sao thi nhân lại viết: “Ngỡ lòng mình là rừng/ Ngỡ hồn mình là mây”. Chữ “mây” trong câu thơ này còn gợi ta nhớ tới đoạn thơ “Mây ơi có tạt về phương Bắc/ Chầm chậm cho ta gửi mấy lời/ Từ thuở ly hương ta vẫn nhớ/ Nhưng tình xa lắm gió mây ơi” trong bài “Tư hương” của ông.

    Trong bài “Lặng lẽ”, Hồ Dzếnh từng viết: “Yêu là khó nói cho xuôi/ Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh”. Đọc thơ Hồ Dzếnh, ta sẽ gặp không ít câu thơ hay một cách vu vơ, ngẫu hứng hơn là những câu thơ hay do nung nấu suy nghĩ mà thành. Nó thuộc diện khó… bình nhưng chỉ cần đọc lên là có thể chinh phục người nghe. Có thể nó không thỏa mãn những người ưa suy ngẫm, triết lý nhưng lại giải phóng năng lượng cho người có tâm hồn khoáng đạt. Nó là loại thơ khó làm bởi khi viết, tác giả phải có sự “nhập đồng”, tâm hồn phải thật thánh thiện. Hồ Dzếnh từng kể với tôi rằng, ông thích nhất nghe tiếng chim sơn ca hót lúc sáng sớm, khi chưa có bóng người, chỉ có bóng sương. Và tôi nghĩ, thơ ông, ở thời “Quê ngoại” cũng là tiếng chim sơn ca ấy. Nó cất lên ngắn ngủi nhưng thật quý hiếm, mang cái đẹp trong trẻo của buổi đầu ngày, không bị tác động bởi hệ tư tưởng phi nghệ thuật, nặng yếu tố thực dụng. Phải chăng đó là lý do khiến khi gặp Hồ Dzếnh, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã phải thốt lên rằng: “Đọc tác phẩm của anh, tôi cứ nghĩ, đấy mới thực sự là văn học”.


    Nguồn: An ninh thế giới giữa tháng, tháng 2-2011

    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Trung Chánh @ 20:55 26/02/2011
    Số lượt xem: 298
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến