THỜI TIẾT HÔM NAY

Hà Nội
TP. Hồ Chí Minh
Kiên Giang

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Tra Từ Điển Online 

                  

     

    CTy HPEC

    Về Trang chủ

    Chinh phụ ngâm

    301508230407
    Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    Người gửi: Lê Trung Chánh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:05' 10-07-2011
    Dung lượng: 10.1 KB
    Số lượt tải: 33
    Mô tả:

     http://a5.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-ash4/217551_211984855479565_114313015246750_865251_270729_n.jpg

    Chinh phụ ngâm

    Chinh phụ ngâm (征婦吟, khúc ngâm của người chinh phụ), còn có tên khác là Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲) là tác phẩm văn vần của Đặng Trần Côn, ra đời trong khoảng năm 1741 giai đoạn sơ kỳ Cảnh Hưng và về sau được nhiều người dịch ra thơ Nôm.

    Đây là thi phẩm chủ yếu viết theo lối tập cổ, dài 483 câu thơ[1]. Các câu thơ trong bài dài ngắn khác nhau, theo thể trường đoản cú, câu dài nhất khoảng 12, 13 chữ, câu ngắn chỉ 3, 4 chữ.

     

    Tóm tắt

    Chinh phụ ngâm có hình thức là một lời độc thoại nội tâm mà vai chính, cũng là vai duy nhất đứng ra độc thoại trong truyện là một người vợchồng tham gia cuộc chiến do triều đình phong kiến chủ xướng, kể về nỗi khổ, nỗi cô đơn buồn tủi phải xa chồng. Tác phẩm mở đầu với khung cảnh của chiến tranh ác liệt và nhà vua truyền hịch kêu gọi mọi người tham gia chiến cuộc. Trong bối cảnh này, nàng chinh phụ hình dung cảnh chồng nàng lên đường phò vua giúp nước, ra đi với quyết tâm giành hàng loạt thành trì dâng vua, hùng dũng trong chiếc chiến bào thắm đỏ và cưỡi con ngựa sắc trắng như tuyết.

    Cuộc tiễn đưa lưu luyến kết thúc, người chinh phụ trở về khuê phòng và tưởng tượng ra cảnh sống của chồng nơi chiến địa. Những xúc cảm về một hình ảnh "lẫm liệt" của chồng phút chia ly đã dần mờ nhòe, thay thế vào đó là nỗi lo sợ khủng khiếp về số phận của chồng giữa chiến trường khốc liệt, đầy oan hồn tử khí, và niềm đau khổ khôn nguôi về thân phận đơn chiếc của bản thân nàng.

    Trong phần tiếp theo, câu chuyện chủ yếu diễn tả tâm trạng trăn trở, cô quạnh của người chinh phụ. Đó là việc chồng quá hạn không về, cũng không có tin tức gì, và người chinh phụ đành phải tính thời gian bằng chu kỳ quyên hót, đào nở, sen tàn. Đó là tâm trạng "trăm sầu nghìn não" khi người chinh phụ quanh quẩn trước hiên, sau rèm, vò võ dưới đêm khuya vắng, đối diện với hoa, với nguyệt. Đó là tâm trạng chán chường khi tìm chồng trong mộng nhưng mộng lại buồn hơn, lần giở kỷ vật của chồng mong tìm chút an ủi nhưng sự an ủi chỉ le lói, thấy thân phận của mình không bằng chim muông, cây cỏ có đôi liền cành. Cuối cùng, chán chường và tuyệt vọng, người chinh phụ đã không còn muốn làm việc, biếng lơi trang điểm, ngày đêm khẩn cầu mong được sống hạnh phúc cùng chồng.

    Kết thúc khúc ngâm, người chinh phụ hình dung ngày chồng nàng chiến thắng trở về giữa bóng cờ và tiếng hát khải hoàn, được nhà vua ban thưởng và cùng nàng sống hạnh phúc trong thanh bình, yên ả.

    Một số câu thơ

    Dưới đây là một số câu thơ mở đầu Chinh phụ ngâm được chia làm 3 cột, cột nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn[2], cột phiên âm Hán Việt và cột dịch thơ song thất lục bát theo bản dịch chữ Nôm[3] tương truyền của Đoàn Thị Điểm:

    Bản dịch

    Hiện nay, Chinh phụ ngâm có 7 bản dịch và phỏng dịch bằng các thể thơ lục bát (3 bản) hoặc song thất lục bát (4 bản) của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên am Nguyễn và hai tác giả khuyết danh[1]. Bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản in chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu 1902:AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại Thư viện Paris) có người cho là Đoàn Thị Điểm, có người cho là của Phan Huy Ích và những phát hiện mới gần đây có xu hướng nghiêng về dịch giả Phan Huy Ích[1][4].

    Chinh phụ ngâm cũng được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Bản dịch tiếng Pháp thực hiện bởi những nhà văn trong nhóm Mercure de France, bản tiếng Nhật[1] do Giáo sư Takeuchi Yonosuke dịch, và tiếng Hàn do Bae Yang Soo[5] thực hiện.

    Giá trị nghệ thuật

    Chinh phụ ngâm ra đời trong bối cảnh phong trào nông dân khởi nghĩa chống triều đình phong kiến nửa đầu thế kỷ 18 đang dâng lên mạnh mẽ, đã trở thành tiếng nói đề cập đến cuộc chiến tranh phi nghĩa do nhà nước phong kiến Lê-Trịnh phát động lúc bấy giờ nhằm đàn áp nông dân khởi nghĩa[1]. Nhà thơ đã nhìn nhận và tố cáo chiến tranh từ hai phía: từ phía người chinh phu, chiến tranh mang bộ mặt chết chóc, tàn lụi; từ phía người chinh phụ ở nhà, chiến tranh là cô đơn, sầu muộn, từ đó khẳng định sự phi nghĩa của chiến tranh đối với cuộc sống bình thường giản dị của con người. Hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc của tuổi trẻ được đặt tác giả đề cập không chỉ trên phương diện tinh thần, mà ít nhiều mang màu sắc một sự khát khao mãnh liệt được gần gụi, được ân ái[1], trong sự đối lập với lý tưởng công danh của chế độ phong kiến thậm chí đối lập với cả những quan niệm thông thường về "quả phúc" của nhà Phật, thể hiện một giá trị nhân đạo sâu sắc. Tuy vậy, tính chất của chiến tranh chưa được tác giả ý thức rõ rệt, do đó, ở đoạn đầu khúc ngâm hình ảnh người chinh phu lúc ra đi còn mang tính lý tưởng hóa, và cuối khúc ngâm, còn là hình ảnh, dù chỉ là trong tưởng tượng với những sắc màu ảo tưởng, về sự tái hồi trong vinh quang của người chồng.

    Về nghệ thuật, cả nguyên tác và bản dịch lưu hành phổ biến hiện nay đều có những thành tựu đặc biệt xuất sắc. Bút pháp tượng trưng, ước lệ được nâng tầm khi Đặng Trần Côn đã chắt lọc từ kho tàng văn thơ chữ Hán cổ ra những câu phù hợp nhất với ý tứ của mình và dụng công sắp xếp thành kết cấu hoàn chỉnh, như một sáng tạo mới mẻ[1]. Thể thơ trường đoản cú được Đặng Trần Côn sử dụng giàu nhạc tính, tiết tấu biến hóa sinh động tùy yêu cầu của nội dung. Bản dịch hiện hành Chinh phụ ngâm (của Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích) cho thấy dịch giả biết phát huy những ưu điểm vốn có của nguyên tác, và gạn lọc cả những thành tựu của các bản dịch trước đó, sử dụng ưu thế của thể thơ song thất lục bát, đã vươn tới một sáng tạo tài tình bằng ngôn ngữ trong sáng hiện đại, kết cấu thanh vận khéo léo, láy âm điệp chữ tinh tế, gieo vào lòng độc giả âm hưởng xao xuyến vừa quen thuộc vừa đa dạng, và hầu như lúc nào cũng gây được hiệu quả thẩm mỹ[1].

    Chú thích

    1. ^ a b c d e f g Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, H. 2003, trang 260-261
    2. ^ Chinh phụ ngâm khúc (bản nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn.
    3. ^ Chinh phụ ngâm diễn ca (bản dịch Nôm).
    4. ^ Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc của Phan Huy Ích
    5. ^ Xuất bản Chinh phụ ngâm bằng tiếng Hàn
    Chinh Phụ Ngâm
    412 câu thơ viết theo thể song thất lục bát, ta có thể chia ra làm 13 phần:

    - Phần 1:
    Nước nhà đang cơn biến loạn, làm trai phải tạm gác việc nhà để làm bổn phận với đất nước theo tiếng gọi của non sông. Làm gái đành tạm nhận lấy kiếp sống truân chuyên.

    1- Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
    Xanh kia thăm thẳm tầng trên.
    Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!
    Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt.
    Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
    Chín tầng gươm báu trao tay,
    Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh..
    Nước thanh bình ba trăm năm cũ,
    Áo nhung trao quan vũ, từ đây;
    Sứ trời sớm giục đường mây,
    Phép công là trọng, niềm tây sá nào.
    Ðường dong ruổi lưng đeo cung tiễn.
    Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
    Bóng cờ tiếng trống xa xa,
    16- Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.

    - Phần 2:
    Giờ phút lên đường thân chinh ra biên ải. Người trai vốn giòng hào kiệt, với ý chí kiên cường, quyết đem thân mà trả nợ núi sông.  

    17- Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt.
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
    Thành liền mong tiến bệ rồng.
    Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời,
    Chí làm trai dậm nghìn da ngựa
    Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao,
    Giã nhà, đeo bức chiến bào,
    Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu
    Ngòi đầu cầu, nước trong như lọc,
    Ðường bên cầu, cỏ mọc còn non.
    Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn,
    Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
    Nước trong chảy, lòng phiền chẳng rửa.
    Cỏ xanh thơm, dạ nhớ khó quên.
    Nhủ rồi nhủ lại cầm tay.
    Bước đi một bước giây giây lại dừng.
    Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
    Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên san;
    Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
    Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
    Săn Lâu lan rằng theo Giới tử;
    Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
    Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
    40- Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

    - Phần 3:
    Cảnh chia tay ngậm ngùi trong lòng người chinh phụ. Có lẽ người đi ít buồn hơn kẻ ở.

    41- Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
    Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay!
    Hà lương chia rẽ đường này,
    Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi.
    Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
    Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng dương
    Quân đưa chàng ruổi lên đường,
    Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
    Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng.
    Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
    Dấu chàng theo lớp mây đưa.
    Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
    Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
    Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
    Ðoái trông theo đã cách ngăn,
    Tuôn mầu mây biếc, trải ngần núi xanh
    Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
    Bến Tiêu Tương thiếp hãi trông sang.
    Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
    Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
    Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
    Ngàn dâu xanh ngắt một mầu.
    64- Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

    - Phần 4:
    Những tháng ngày gian khổ của chinh phu từ khi đi vào nơi gió cát. 

    65- Chàng từ khi vào nơi gió cát,
    Ðêm chăng này nghỉ mát phương nao?
    Xưa nay chiến địa nhường bao!
    Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu!
    Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
    Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon.
    Ôm yên, gối trống đã chồn,
    Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.
    Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại,
    Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.
    Hình khe thế núi gần xa,
    Ðứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
    Sương đầu núi, buổi chiều như giội,
    Nước lòng khe, nẻo suối còn sâu.
    Não người áo giáp bấy lâu,
    Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
    Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ?
    Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
    Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
    Chẳng nơi Hãn hải thì miền Tiêu quan.
    Ðã trắc trở đòi ngàn xà hổ
    Lại lạnh lùng những chỗ sương phong,
    Lên cao trông thức mây lồng,
    88- Lòng nào mà chẳng động lòng bi thương.

    - Phần 5:
    Lòng hy sinh của người trai nơi chiến trường rất nhiều ngay cả việc đem thân đền nợ nước, da ngựa bọc thây.  

    89- Chàng từ sang đông nam khơi nẻo
    Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
    Những người chinh chiến bấy lâu,
    Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây
    Nức hơi mạnh ơn dày từ trước;
    Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
    Non Kỳ mộ chỉ trăng treo,
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.
    Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
    Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
    Chinh phu tử sĩ mấy người,
    Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
    Dấu binh lửa, nước non như cũ,
    Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
    Phận trai: già ruổi chiến trường,
    Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.
    Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ.
    Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.
    Xông pha gió bãi trăng ngàn,
    Tên treo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.
    Áng công danh trăm đường rộn rã,
    Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi,
    Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?
    112- Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.

    -Phần 6:
    Người chinh phụ buồn cho cái kiếp sống cô đơn của mình nhưng trong lòng vẫn chan chứa nỗi hẹn hò của ngày về gặp gỡ.  

    113- Trong cửa này, đã đành phận thiếp,
    Ngoài mây kia, há kiếp chàng vay?
    Những mong cá nước vui vầy,
    Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
    Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
    Chàng há từng học lũ vương tôn?
    Cố sao cách trở nước non,
    Khiến người thôi sớm, thôi hôm những sầu.
    Chàng phong lưu đương chừng niên thiếu,
    Sánh nhau cùng gian dối chữ duyên;
    Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
    Quan sơn để cách hàn huyên cho đành?
    Thuở lâm hành, oanh chưa bén liễu.
    Hỏi ngày về, ước nẻo oanh ca
    Nay quyên đã giục oanh già.
    Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo,
    Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió
    Hỏi ngày về chỉ độ đào bông,
    Nay đào đã quyến gió đông
    Phù dung lại đã bên sông bơ xờ.
    Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy,
    Sớm đã trông nào thấy hơi tăm?
    Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
    Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao.
    Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ.
    Chiều lại tìm nào có tiêu hao:
    Ngập ngừng gió thổi chéo bào
    Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.
    Tin thường lại người không thấy lại,
    Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
    Rêu xanh mấy lớp xung quanh,
    Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ!
    Thư thường tới, người chưa thấy tới,
    Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.
    Bóng dương mấy buổi xuyên ngang.
    148- Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?

    -Phần 7:
    Dù chồng đã đi xa, ngoài biên ải, chinh phụ vẫn làm tròn bổn phận của người ở lại.  

    149- Thử tính lại diễn khơi ngày ấy.
    Tiền sen này đã nẩy là ba.
    Xót người lần lữa ải xa,
    Xót người nương chốn Hoàng hoa dặm dài.
    Tình gia thất nào ai chẳng có,
    Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.
    Mẹ già phơ phất mái sương,
    Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.
    Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
    Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
    Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
    Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân
    Nay một thân nuôi già, dạy trẻ,
    Nỗi quan hoài mang mể biết bao.
    Nhớ chàng trải mấy sương sao
    Xuân từng đổi mới, đông nào có dư!
    Kể năm đã ba tư cách diễn
    Mối sầu thêm ngìn vạn ngổn ngang,
    Ước gì gần gũi tấc gang,
    Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay.
    Theo cung Hán thuở ngày xuất giá
    Gương lầu Tần, dấu đã soi chung.
    Cậy ai mà gửi tới cùng,
    Ðể chàng thấu hết tấm lòng tương tư.
    Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía,
    Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi.
    Cậy ai mà gửi tới nơi?
    176- Ðể chàng trân trọng dấu người tương thân.

    -Phần 8:
    Vắng tin chồng đã lâu, chinh phụ cảm thấy lòng mình dâng lên nỗi lo âu.  

    177- Trải mấy xuân tin đi tin lại,
    Tới xuân này tin hãy vắng không.
    Thấy nhàn luống tưởng thư phong.
    Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.
    Gió tây nổi, không đường hồng tiện.
    Xót cõi ngoài tuyết quyến, mưa sa.
    Màn mưa trướng tuyết xông pha,
    Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
    Ðề chữ gấm phong thôi lại mở.
    Gieo bói tiền tin dở còn ngờ.
    Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
    Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
    Há như ai hồn say bóng lẫn,
    Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
    Trâm cài, xiêm dắt thẹn thùng,
    Lệch vừng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.
    Dạo hiên vắng, thầm gieo từng bước.
    Ngoài rèm thưa rủ, thác đòi phen.
    Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
    Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
    Ðèn có biết, nhường bằng chẳng biết,
    Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
    Buồn rầu nói chẳng nên lời,
    Hoa đèn kia với bóng người khá thương,
    Gà eo óc gáy sương năm trống,
    Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
    Khắc trời đằng đẵng bấy niên,
    Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
    Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
    Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
    Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
    Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng,
    Lòng này gửi gió đông có tiện,
    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên,
    Non Yên dù chẳng tới miền.
    212- Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

    -Phần 9:
    Tâm trạng người chinh phụ trong cảnh đợi chờ quá lâu. Cảnh vật chung quanh không còn là gần gũi với nàng, ngay cả việc trang điểm cho mình.  

    123- Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
    Nỗi nhớ nhung đau đáu nào xong.
    Cảnh buồn người thiết tha lòng,
    Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
    Sương như búa bổ mòn gốc liễu.
    Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô.
    Giọt sương phủ bụi chim gù,
    Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
    Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc,
    Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên.
    Lá màn lay ngọn gió xuyên,
    Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
    Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
    Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
    Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
    Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu,
    Ðâu xiết kể trăm sầu nghìn não.
    Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi,
    Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
    Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa,
    Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói
    Sớm lại chiều, dòi dõi nương song;
    Nương song luống ngẩn ngơ lòng.
    Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
    Biếng trang điểm lòng người sầu tủi,
    Xót nỗi chàng ngoài cõi trùng quan.
    Khác gì ả Chức chị Hằng,
    Bến Ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng.
    Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối,
    Mộng ôm đầy, hãy thổi làm cơm.
    Mượn hoa, mượn rượu giải buồn,
    Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.
    Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng.
    Ôm đàn tranh, mấy phím rời tay;
    Xót người hành dịch bấy nay,
    Dặm xa thêm mỏi, trắp đầy lại vơi.
    Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
    Trống tiều khua như đốt buồng gan.
    Võ vàng đổi khác dung nhan,
    253- Khuê ly mới biết tân toan dường này.

    -Phần 10:
    Chinh phụ mơ thấy mình đi bên chồng khắp mọi nơi. Ðó vẫn là giấc mộng.  

    153- Nếm chua cay, tấm lòng mới tỏ.
    Chua cay này há có vì ai?
    Vì chàng, lệ thiếp nhỏ đôi,
    Vì chàng, thân thiếp lẻ loi một bề.
    Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng.
    Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn,
    Duy còn hồn mộng được gần,
    Ðêm đêm thường đến Giang tân tìm người
    Tìm chàng thuở Dương đài lối cũ.
    Gặp chàng nơi Tương phố bến xưa:
    Xum vầy mấy lúc tình cờ,
    Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.
    Giận thiếp thân lại không bằng mộng
    Ðược gần chàng bến Lũng thành Quan.
    Khi mơ, những tiếc khi tàn,
    Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không!
    Vui có một tấm lòng chẳng dứt.
    Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi!
    Lòng theo nhưng chửa thấy người,
    Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe
    Trông bến nam, bãi che mặt nước,
    Cỏ biếc um, dâu mướt màu xanh.
    Nhà thôn mấy xóm chông chênh,
    Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.
    Trông đường bắc, đôi chòm quán khách,
    Rườm rà cây xanh ngắt núi non;
    Lúa thành thoi thóp bên cồn,
    Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.
    Non đông thấy lá hầu chất đống.
    Trĩ xập xòe mai cũng bẻ bai,
    Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
    Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.
    Lũng tây chẩy, nước dường uốn khúc,
    Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu:
    Ngàn thông chen chúc khóm lau,
    Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.
    Trông bốn bể chân trời mặt đất;
    Lên, xuống lầu thấm thoắt đòi phen;
    Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn,
    Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc quan.
    Gậy rút đất dễ khôn học chước,
    Khăn gieo cầu nào được thấy tiên,
    Lòng này hóa đá cũng nên,
    296- E không lệ ngọc mà lên trông lầu.

    -Phần 11:
    Chinh phụ có khi cũng mến tiếc tuổi xuân. Sợ tuổi trẻ sẽ qua nhanh mà chồng thì chưa gặp. Không biết chàng có nhớ đến thiếp chăng?  

    297- Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
    Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
    Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
    Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
    Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
    Lòng thiếp nàp dám nghĩ gần xa;
    Hướng dương lòng thiếp như hoa,
    Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
    Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
    Hoa để vàng bởi tại bóng dương;
    Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
    Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần?
    Chồi lan nọ trước sân đã hái,
    Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
    Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
    Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ.
    Bóng Ngân hán khi mờ khi tỏ,
    Ðộ Khuê triền buổi có buổi không.
    Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
    Chuôi sao Bắc đẩu thôi đông lại đoài.
    Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
    Bừng mắt trông sương gội cành khô.
    Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu,
    Gió mây hiu hắt trên đầu tường vôi.
    Một năm một nhạt màu son phấn,
    Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi:
    Xưa sao hình ảnh chẳng rời,
    Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương?
    Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ,
    Thiếp dạo hài lối cũ rêu in.
    Gió xuân ngày một vắng tin,
    Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì.
    Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy,
    Trước gió xuân vàng tía sánh nhau;
    Nọ thì ả Chức, chàng Ngâu.
    Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.
    Thương một kẻ phòng không luống giữ,
    Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau;
    Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
    Người đòi thấm thoắt qua mầu xuân xanh
    Xuân, thu để giận quanh ở dạ.
    Hợp ly đành buồn quá khi vui.
    Oán sầu nhiều nỗi tơi bời,
    Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.
    Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước,
    E đến khi đầu bạc mà thương.
    Mặt hoa nọ gã Phan lang
    Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
    Nghĩ nhan sắc đương chùng hoa nở,
    Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
    Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa!
    Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng
    Gác nguyệt nọ mơ mòng vẻ mặt,
    Lầu hoa kia, phảng phất mùi hương.
    Trách trời sao để nhỡ nhàng,
    352- Thiếp rầu, thiếp lại rầu chàng chẳng quên.

    -Phần 12:
    Chinh phụ ước mơ mình sống có đôi, chỉ như loài chim muông cũng thấy hạnh phúc lắm rồi, mong rằng mình còn trẻ mãi và luôn gần gũi chồng.  

    353- Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội?
    Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.
    Chẳng xem chim yến trên rường,
    Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.
    Kìa loài sâu hai đầu cùng sánh,
    Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
    Liễu, sen, là thức cỏ cây,
    Ðôi hoa cũng sánh, đôi dây cũng liền.
    Ấy loài vật tình duyên còn thế,
    Sao kiếp người nỡ để đấy, đây.
    Thiếp xin về kiếp sau này,
    Như chim liền cánh, như cây liền cành.
    Ðành muôn kiếp chữ tình đã vậy,
    Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau,
    Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
    Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.
    Xin làm bóng theo cùng chàng vậy.
    Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên;
    Chàng nương vừng nguyệt phỉ nguyền,
    372- Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn.

    -Phần 13 ( kết ):
    Biết chồng đã ra đi vì dân vì nước, thì còn gì mong hơn là ngày chinh phu trở về trong khúc ca chiến thắng. Còn gì hạnh phúc hơn khi vợ chồng sum họp và sống trong vinh dự, thái bình với làng, với nước.

      373- Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt,
    Sức tý dân dường sắt trơ trơ.
    Máu Thuyền Vu quắc Nhục Chi,
    Ấy thì bữa uống, ấy thì buổi ăn.
    Mũi đồng bác đôi lần hăm hở,
    Ðã lòng trời gìn giữ người trung.
    Hộ chàng trăm trận nên công,
    Buông tên ải bắc, treo cung non đoài.
    Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải,
    Tiếng khải ca trở lại Thần kinh.
    Ðỉnh non kia, đá đề danh,
    Triều thiên vào trước cung đình dâng công,
    Nước Ngân hán việt đồng rửa sạch,
    Khúc Nhạc Từ giéo giắt lừng khen.
    Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
    Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân,
    Nền huân tướng đai cân rạng vẻ.
    Chữ đồng hưu bia để nghìn đông.
    Ơn trên ấm tử, thê phong
    Phân vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.
    Thiếp chẳng dại như người Tô phụ.
    Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương.
    Khi về đeo quả ấn vàng,
    Trên khung cửi, dám rẫy ruồng làm cao.
    Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
    Xin vì chàng dũ lớp phong sương.
    Vì chàng tay chúc chén vàng,
    Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.
    Mở khăn lệ, chàng trông từng tấm,
    Ðọc thơ sầu, chàng thấm từng câu.
    Câu vui đổi lấy câu sầu.
    Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.
    Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
    Sẽ ca lần ren rén từng thiên
    Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
    Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.
    Cho bõ lúc xa sầu cách nhớ,
    Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.
    Ngâm nga mong mỏi chữ tình,
    412- Nhường này âu hẳn tài lành trượng phu.

    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến