THỜI TIẾT HÔM NAY

Hà Nội
TP. Hồ Chí Minh
Kiên Giang

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Từ Điển Online

    Tra Từ Điển Online 

                  

     

    CTy HPEC

    Về Trang chủ

    Nhà thơ Bùi Giáng

    0.Bui_Giang
    Nguồn: st
    Người gửi: Lê Trung Chánh (trang riêng)
    Ngày gửi: 23h:29' 23-09-2009
    Dung lượng: 55.5 KB
    Số lượt tải: 3
    Mô tả: I. Tiểu sử:
    Nhà thơ Bùi Giáng (1926 – 1998) là một nhà thơ, dịch giả và nhà nghiên cứu văn học. Ông sinh tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Bùi Giáng là con thứ hai của ông Bùi Thuyên và vợ kế Huỳnh Thị Kiền. Ông có nhiều bút danh khác như Bán Dùi, Bùi Giàng Dúi. Khi đươc hỏi về Tiểu sử bản thân, Bùi Giáng viết:
    Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
    Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa.
    Gọi tên là một hai ba,
    Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.
    Tự họa về bản thân, Bùi Giáng tâm sự: "Nhe răng cười trong bóng tối... Không bao giờ bắt chuồn chuồn mà cứ bảo rằng mình luôn luôn bắt chuồn chuồn... Không thiết chi đọc sách mà vẫn cặm cụi đọc sách hoài... Chán chường thi ca mà cứ làm thơ hoài... Chuốc sầu vạn đại thì bảo rằng mua vui cũng được một vài trống canh."
    Năm 18 tuổi, Bùi Giáng lấy Phạm Thị Ninh, một thiếu nữ nổi tiếng xinh đẹp. Hạnh phúc chưa trọn vẹn thì vài năm sau trong một ca sinh non, vợ và con đã qua đời. Nỗi đau đó ám ảnh rất nhiều đến cuộc sống và sáng tác thi ca của ông sau này. Những vần thơ chất chứa nỗi sầu li biệt “"Có hàng cây đứng ngóng thu/ Em đi mất hút như mù sa bay” hay "Em đi bỏ lại con đường/Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em”, trên bia mộ của ông giờ đây khắc những dòng thơ “Đùa với gió, rỡn với vân/Một mình nhớ mãi/gái trần gian xa/Sương buổi sớm, nắng chiều tà/Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu”.
    II. Quá trình sáng tác
    Thuở nhỏ, Bùi Giáng học trường Bảo An tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, trung học ở trường Thuận Hóa, Huế. Năm 1950, đậu Tú Tài II văn chương ở Liên Khu V. Sau đó ra Liên Khu IV học tiếp đại học. Nhưng sau khi nghe qua bài diễn văn khai giảng của ông viện trưởng, Bùi Giáng quay về Quảng Nam và bắt đầu quãng đời được gọi là "Mười lăm năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt". Tháng năm 1952, Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa.

    Lần này, sau khi nhìn danh sách giáo sư giảng dậy ở Văn Khoa, Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.

    Từ 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết. Như lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, có thể ném bịch một vài trăm trang sách. Ðúng là một kỷ lục có một không hai.
    Bùi Giáng nổi tiếng bởi tốc độ sáng tác nhanh: tập thơ “Mười hai con mắt” được ông sáng tác chỉ trong một đêm Noel năm 1992.
    Từ năm 1962, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam Việt Nam trước 1975. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị nghìn bài.
    Sau năm 1975, ông không bị đi học tập cải tạo như nhiều văn sĩ miền Nam khác vì ông bị mắc bệnh tâm thần.
    Từ 1975 trở đi ông vẫn tiếp tục sáng tác rất nhiều thơ, nhưng thời gian này ông có biểu hiện bệnh tâm thần nặng. Ông thường rong chơi nghịch ngợm ngoài đường với bộ đồ rách rưới, dơ dáy, nhiều lần bị công an bắt vì gây rối trật tự, cản trở giao thông.
    Tháng 10 năm 1998, trong một lần đi chơi ông bị té làm chấn thương sọ não. Sau khi hỏi ý kiến của nghệ sĩ Kim Cương, bệnh viện chợ Rẫy quyết định mổ cho ông, song ông đã qua đời vào ngày 7 tháng 10, 1998.
    Thơ Bùi Giáng “ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, đã tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ tồn sinh, về những chuyện phù du, dâu bể” (Thụy Khuê). Những câu thơ tĩnh lặng trong chiều sâu tâm thức:
    Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ
    Tiếng kêu kia còn một chút mong manh
    Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ
    Lạc trời cao kết tụ bóng không thành
    (Hư vô và vĩnh viễn - Mưa Nguồn)
    Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng luôn ám ảnh bởi những "tồn sinh", những "phố thị", những "cố quận", "đười ươi", “mù sa", "vân mòng", "mai sau", "trăm năm", "ngẫu nhĩ", "phong tình", "cổ lục" …Chất tự vấn trong thơ Bùi Giáng trước “cõi đi”, “cõi ở”,” cõi có”, “cõi không”…phải chăng đã bắt nhịp cùng tiếng lòng thổn thức của bậc thầy Nguyễn Du trước cuộc đời hơn 300 năm trước. Trong những năm cuối đời, thơ Bùi Giáng day dứt những câu hỏi:
    Em đi từ tỉnh mộng đầu
    Một mình anh ở mang sầu trăm năm?
    Em từ vô tận xa xăm
    Trùng lai chất vấn: Từ trăm năm nào?
    III. Các công trình và tác phẩm đã xuất bản:
    1. Thơ
    • Mưa nguồn (1962)
    • Lá hoa cồn (1963)
    • Màu hoa trên ngàn (1963)
    • Mười hai con mắt (1964)
    • Ngàn thu rớt hột(1967)
    • Rong rêu (1972)
    • Thơ vô tận vui (1987)
    • Mùa màng tháng tư (1987)
    • Mùi Hương Xuân Sắc (1987)
    2. Dịch thuật
    • Trăng châu thổ
    • Hoàng Tử Bé
    • Khung cửa hẹp
    • Hòa âm điền dã
    • Ngộ nhận
    • Cõi người ta
    • Nhà sư vướng luỵ
    3. Nghiên cứu
    • Tư tưởng hiện đại (1962)
    • Martin Heidgger và tư tưởng hiện đại (1963)
    • Đi vào cõi thơ
    • Thi ca tư tưởng
    • Một vài nhận xét về bà huyện Thanh Quan
    • Một vài nhận xét về Lục Vân Tiên, Chinh Phụ Ngâm, quan Âm Thị Kính
    • Vài nhận xét về truyện Kiều và truyện Phan Trần
    • Sa mạc phát tiết (1965)
    • Sa mạc trường ca (1965)
    • Bài ca tuần đạo (1969)
    • Mùa thu trong thi ca
    • Ngày tháng ngao du

    IV. Giới thiệu một số thi phẩm:

    1. Xuân thôn nữ

    Gò mô mấp mé bãi cồn
    Lá lơ thơ xuống bên tồn sinh bay
    Mép rìa vòm cỏ hoa phai
    Con chim mùa cũ hẹn ngày giờ sanh

    Từ phen mắt lệ ám đàn
    Trút hiu hắt đợi lau vàng võ mong
    Chiêm bao kỳ mộng vô cũng
    Đẩy băng tuyết lại mấy vùng lang thang

    Hai tay vốc nước suối ngán
    Rắc lên cành dại giọt ngần như sương

    Em người thôn nữ bờ mương
    Ngồi nhìn cá nhảy lên vườn như chim
    Ta người viễn khách đưa tin
    Bỗng đờ đẫn đứng chợt nhìn nhận ra.


    2. Mắt Buồn

    Bóng mây trời cũ hao mòn
    Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
    Tấm thân với mảnh hình hài
    Tấm thân thể với canh dài bão dông
    Cá khe nước cõng lên đồng
    Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
    Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
    Ầm trang sử lịch thu triền miên trôi
    Bỏ trăng gió lại cho đời
    Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
    Bỏ người yêu bỏ bóng ma
    Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
    Bây giờ riêng đối diện tôi
    Còn hai con mắt khóc người một con


    3. Rong chơi

    Ngao du tuế nguyệt thập thành

    Nắng mưa chìm nỗi đã đánh lâm ly
    Hoàng hôn vĩnh dạ thuận tùy
    Bình minh tái tặng nhu mỳ cho em.

    Nhật Vũ tổng hợp

    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến